Thanksgiving – Tạ Ơn

Thanksgiving

PERSONALLY SPEAKING

When asked what it means to praise God, my four-year-old grandson Logan explained, “It’s when we tell God, ‘Good job!’” I chuckled when I heard that, but it got me thinking. Why are we told time and again in the Bible to praise God, to tell Him “Good job”? He deserves it, of course, because He certainly did a good job when He created us and our infinitely complex universe, and moment by moment He does a good job at holding it all together.

He deserves our praise and thanks for a job well done, that much is clear, but sometimes I wonder what He gets out of it. I’ve seen what praise can do for Logan or me or anyone else. I know how it builds us up, but does God really need that? He’s all-powerful and all-knowing. Surely He already knows how great He is. Why would He need to hear that from us?

I think it’s mostly for our benefit. I think we need to hear it from us. We need to think about His goodness, and to put it into words. We need it, and for at least three reasons.

First, it puts things in perspective. It reminds us of our human limitations and frailties, and of God’s power and goodness toward us.

That leads to reason number two: it puts us on a positive path, in a hopeful frame of mind. That’s important because we can’t even begin to be happy until we realize that none of the things that stand in our way are insurmountable, with His help.

Third and best of all, it brings us into loving communion with our Creator, whom to know is life eternal.1 That’s the purpose of this life, His reason for it all. It’s His ultimate goal and His daily wish for us. That’s what’s in it for Him and us both. When we tell God “Good job,” think about what we’re saying, and really mean it, we create a little bit of heaven on earth for ourselves.

Lời tâm tình

Khi tôi hỏi đứa cháu trai 4 tuổi, Logan về việc tạ ơn Chúa là thế nào, cậu bé giải thích: “Đó là khi chúng ta nói với Chúa, ‘Làm tốt lắm!’” Tôi cười khi nghe điều ấy, nhưng nó khiến tôi suy nghĩ. Tại sao chúng ta lại được Kinh Thánh dạy hãy ngợi khen Chúa, nói với Ngài “Làm tốt lắm”? Lẽ dĩ nhiên Ngài xứng đáng, bởi vì Ngài đã làm một việc tốt khi Ngài tạo dựng nên chúng ta và vũ trụ vô cùng phức tạp này, và trong từng khoảnh khắc một, Ngài còn làm một việc rất tài tình chính là giữ mọi thứ gắn kết với nhau.

Ngài xứng đáng được hưởng lời ngợi khen và tạ ơn của chúng ta về công việc tốt đẹp, rất rõ ràng như thế, nhưng đôi khi tôi tự hỏi Ngài cần lời khen ngợi để làm gì. Tôi thấy được những gì lời khen ngợi có thể có ích cho Logan hoặc cho tôi hoặc cho bất cứ ai khác. Tôi biết những lời khen ngợi nâng đỡ chúng ta thế nào, nhưng Chúa có thật sự cần đến nó không? Ngài toàn năng và thông biết mọi sự. Chắc chắn Ngài biết rõ Ngài vĩ đại dường nào. Tại sao Ngài cần nghe từ chúng ta?

Tôi nghĩ việc khen ngợi Chúa hầu như chỉ có lợi cho chúng ta. Chúng ta cần nghe điều ấy từ chính chúng ta. Chúng ta cần nghĩ về sự tốt lành của Chúa, và nói ra thành lời. Chúng ta cần nó, và ít nhất là có 3 lý do.

Đầu tiên, nó đặt sự việc vào trong cách nhìn đúng đắn. Nó nhắc chúng ta nhớ về giới hạn và những yếu đuối của con người chúng ta, và về quyền năng và sự tốt lành của Chúa đối với chúng ta.

Điều ấy dẫn đến nguyên nhân thứ hai: nó đặt chúng ta vào trong lối đi tích cực, vào trong một lối suy nghĩ đầy hy vọng. Điều ấy quan trọng bởi vì chúng ta không thể hạnh phúc cho đến khi chúng ta nhận ra rằng không một điều gì cản trở con đường mà chúng ta không thể vượt qua được, cùng với sự giúp đỡ của Ngài.

Lý do thứ ba, và cũng là lý do hay nhất: nó mang chúng ta vào trong sự hiệp thông yêu thương cùng với Đấng Tạo Hóa của chúng ta, Đấng mà sự sống đời đời chính là nhận biết Ngài (Ga 17:3). Đó chính là mục đích của cuộc sống, lý do của Ngài cho tất cả. Đó chính là mục tiêu cơ bản của Ngài và ao ước mỗi ngày của Ngài đối với chúng ta. Lợi ích của việc ngợi khen dành cho Ngài và cho cả chúng ta. Khi chúng ta nói với Chúa “Làm tốt lắm”, hãy nghĩ về điều chúng ta nói, và nói một cách thật lòng, chính là chúng ta tạo ra một phần nhỏ thiên đàng nơi thế gian cho chính mình.

Happiness is neither within us only, nor without us; it is the union of ourselves with God.

—Blaise Pascal

A love note from God

By Elsa Sichrovsky

My back ached from sitting so long in the small metal seat of the bus, and my face flushed from the blazing sun that beat on me through the open window. The bus jostled as it followed the dusty road through a half-deserted section of town, where drab, dilapidated houses and fields overgrown with weeds seemed to be a reflection of my life. The last few weeks had been especially stressful as some friends and I struggled to make progress on a new community volunteer project. We had been having more setbacks than successes, and that, coupled with personal problems, had brought a heavy cloud of discouragement over me.

As the bus passed another row of houses, something on the outdoor laundry line of a run-down house caught my eye. It was a bright yellow towel, waving in the breeze, adorned with a huge smiley face. What made me crane my neck for a second look as we turned the corner were five letters below the face: S-M-I-L-E.

My heart lifted and I couldn’t help breaking out into a big smile. Did the person who had hung that towel there know the inspiration it would bring to a weary passerby? Or did God orchestrate that scene just for me, like a little love note, to reassure me of His presence? I realized that I’d gotten so wrapped up in my immediate circumstances and troubles that I’d forgotten to notice and appreciate the touches of God’s love all around me—the wildflowers blooming by the roadside, a dainty butterfly fluttering past, the welcome breeze that shared the open window with that blazing sun, the sweet smile of the small child in the seat beside me. So many things worth smiling about!

Since that day, I’ve been learning to enjoy life more and to savor its many pleasures, big and small. I’m noticing God’s loving presence more, how He helps me, guides me, and sprinkles my life with His blessings, like little love notes to remind me how much He cares. n

Hạnh phúc không ở trong chúng ta, cũng không có nếu không có chúng ta; hạnh phúc chính là sự kết hiệp giữa chúng ta với Chúa.—Blaise Pascal (1623-1662), triết gia, tác giả, nhà phát minh, nhà vật lý học, nhà toán học người Pháp.

Biểu hiện tình yêu từ Chúa

Elsa Sichrovsky

Lưng tôi đau vì ngồi quá lâu trên chiếc ghế sắt nhỏ hẹp trên xe buýt, và mặt đỏ bừng vì ánh nắng mặt trời chiếu thẳng qua ô cửa sổ mở. Chiếc xe buýt chen trên con đường bụi bặm, đi qua một góc khu phố bị bỏ hoang, nơi những ngôi nhà đổ nát, xám xịt và những cánh đồng đầy cỏ dại cao ngút dường như là cái bóng của cuộc đời của tôi. Những tuần gần đây đặc biệt căng thẳng khi một vài người bạn và tôi vất vả để xúc tiến một dự án tình nguyện nơi cộng đồng mới. Chúng tôi gặp nhiều khó khăn hơn là thành công, và những vấn đề riêng tư, mang đến đám mây nặng nề của sự chán nản che phủ tôi.

Khi xe buýt đi qua một dãy nhà khác, điều gì đó nơi dây phơi đồ bên ngoài ngôi nhà xiêu vẹo khiến tôi chú ý. Đó là một chiếc khăn màu vàng sáng, tung bay trong gió, có in hình một gương mặt cười thật tươi. Điều khiến tôi rướn cổ trong một giây để nhìn khi chúng tôi quẹo qua góc đường đó chính là 5 ký tự phía dưới khuôn mặt: S-M-I-L-E (cười).

Tâm hồn tôi rộn vui và không thể không nở một nụ cười tươi. Liệu người đã treo chiếc khăn kia có biết được sự hứng khởi mà nó sẽ mang lại cho một người khách qua đường đã rã rời và mệt mỏi nào đó không? Hay chính Chúa đã dàn dựng cảnh ấy chỉ để cho tôi, giống như một biểu hiện tình yêu từ Chúa, để bảo đảm cho tôi về sự hiện diện của Ngài? Tôi nhận ra rằng tôi đã bị chìm đắm trong những hoàn cảnh và khó khăn hiện tại của mình, đến nỗi tôi quên không nhận ra và cảm kích tình yêu của Chúa đang ở xung quanh tôi—những bông hoa dại nở rộ bên đường, một con bướm xinh xắn tung cánh bay, một làn gió thổi vào cửa sổ cùng với ánh nắng mặt trời chói chang, nụ cười dễ thương của đứa bé ngồi cạnh bên tôi. Rất nhiều điều để đáng mỉm cười!

Kể từ ngày hôm đó, tôi luôn học để biết cách tận hưởng cuộc sống hơn và thưởng thức rất nhiều niềm vui lớn, nhỏ trong cuộc sống. Tôi nhận thấy sự hiện diện yêu thương của Chúa hơn, cách Ngài đã giúp đỡ, hướng dẫn, và tưới mát cuộc sống của tôi bằng ơn lành của Ngài, giống như những biểu hiện tình yêu nhỏ nhắc tôi nhớ rằng Ngài quan tâm tôi đến dường nào.

The road to happiness

Regardless of whatever else we may be looking for in life, we all have one aspiration in common: we all want to be happy.

Happiness is different things to different people, of course, but some seem to think that it is as simple as having a good time. As children, we all do that. We think that happiness means doing as we please, having lots of fun and not much work. Eventually, after getting into plenty of mischief and suffering many stomach aches, most of us learn that happiness does not come from grabbing everything we want—that happiness is not the product of idleness and chocolate creams.

Unfortunately, some people never do seem to learn that. They spend their lives looking for happiness in all the wrong places, only to realize too late that they have been chasing shadows. Meanwhile there are others who do not make the quest for personal happiness their top priority, their holy grail, but they find it just the same.

Ella Wheeler Wilcox wrote a poem about this search:

I’ve lost the road to happiness,
Does anyone know it, pray?
I was dwelling there
When the morn was fair,
But somehow I wandered away.
I saw rare treasure
And scenes of pleasure
And ran to pursue them when, lo,
I had lost the road to happiness
And knew not whither to go.

Where can true happiness be found? It is found in living in harmony with God. Many people think they are unhappy because of their circumstances, but that is not it—something is wrong in the heart. When the heart is right, all is right, but when the heart is wrong, all is wrong. They are at war with themselves because they are out of harmony with God.

Jesus told His disciples, “If you know these things”—the keys to right living that He had taught them—“blessed are you if you do them.”1 The King James Version translates the Greek word makarios “happy,” rather than “blessed.” That makes the point even more clearly, and there is a world of truth in it! Joy is a result of right living. When we try our best to do things God’s way, we can stop struggling to find happiness, because happiness comes to us. If our hearts are right with God and our will is in line with His, we find rest of spirit, peace, and joy—chief building blocks of happiness.2

1. John 13:17

2. See Matthew 11:28–30; Isaiah 26:3; John 15:11.

Con đường đến hạnh phúc

Phỏng theo bài viết của Virginia Brandt Berg

Cho dù bất cứ điều gì chúng ta tìm kiếm trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều có một khát vọng chung: tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc.

Lẽ dĩ nhiên hạnh phúc đối với mỗi người không giống nhau, nhưng một số người cho rằng, hạnh phúc đơn giản như việc có được một khoảng thời gian vui vẻ. Khi còn nhỏ, tất cả chúng ta đều có thời gian như thế. Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc có nghĩa là làm việc khi chúng ta thích, có rất nhiều niềm vui và không có nhiều việc để làm. Cuối cùng, sau khi gặp quá nhiều điều xấu và trải qua những cơn đau thắt ruột, hầu hết chúng ta học được rằng hạnh phúc không đến từ việc đạt được mọi thứ chúng ta muốn—rằng hạnh phúc không phải là kết quả của việc nhàn rỗi và những cây kem sôcôla.

Đáng tiếc thay, một số người dường như không bao giờ học được điều ấy. Họ dành cả cuộc đời để kiếm tìm hạnh phúc ở sai chỗ, và chỉ nhận ra khi quá muộn rằng họ đã dành cả đời theo đuổi bóng tối. Trong khi đó, có những người không xem hạnh phúc riêng tư là ưu tiên hàng đầu của họ, nhưng họ đã tìm thấy hạnh phúc.

Ella Wheeler Wilcoz đã viết bài thơ về hành trình tìm kiếm này:

Tôi lạc mất con đường đến hạnh phúc,
Có ai biết nó không?
Tôi đã ở đó
Khi trời con sáng
Nhưng tôi đã lang thang
Tôi nhìn thấy kho báu quý giá
Và những khung cảnh vui thích
Tôi chạy đuổi theo nó
Tôi lạc mất con đường hạnh phúc
Và không biết đi đâu.

Hạnh phúc đích thực có thể tìm thấy nơi đâu? Nó được tìm thấy trong việc sống hòa hợp với Chúa. Rất nhiều người nghĩ họ không hạnh phúc bởi vì hoàn cảnh của họ, nhưng không phải thế–có điều gì đó không đúng nơi tâm hồn. Khi trong tâm hồn là lẽ phải, là sự đúng đắn, tất cả sẽ ổn thỏa, nhưng khi có điều gì đó không đúng nơi tâm hồn họ, mọi thứ sẽ đi theo chiều hướng bất ổn. Họ ở trong cuộc chiến với chính mình vì họ đã lệch ra khỏi sự hòa hợp với Chúa.

Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài: “Nếu anh em biết những điều này”—những chiếc chìa khóa để sống đúng mà Chúa đã dạy họ–“nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Ga 13:17). Bản dịch King James dịch từ Hy Lạp makarios là “hạnh phúc” thay vì là “phúc”. Điểm ấy làm rõ hơn và chứa đựng rất nhiều sự thật trong đó! Niềm vui chính là kết quả của việc sống đúng. Khi chúng ta cố gắng hết sức để làm theo đường lối của Chúa, chúng ta có thể thôi vất vả tìm hạnh phúc, bởi vì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta. Nếu tâm hồn của chúng ta ngay thẳng với Chúa, và ý định của chúng ta phù hợp với ý định của Ngài, chúng ta tìm thấy được sự thanh thản cho tinh thần, bình an và niềm vui—những nền tảng chính yếu của hạnh phúc (xem Mt 11:28-30; Is 26:3; Ga 15:11).

Attitude is a decision

By Gabriel García V

Does our attitude toward life determine our level of happiness? I became convinced that it does while volunteering with survivors of the earthquake and subsequent tsunami that devastated parts of Chile in February 2010. Our team met many courageous and remarkably optimistic people who were finding ways to make the best of their horrible situations.

On our first trip to the area, we met a woman who had owned a hair salon. The tidal waves had swept through her shop, leaving total devastation in their wake. When she had dug through the mud where her business had been, she found only one pair of scissors, one buzzer, and one cape. Miraculously, the wave had also spared her large mirror. Thankful that she still had one of each of the items she needed, she cleaned them and reopened for business.

Later, when distributing food boxes, we met her again in her rough one-room temporary housing. She greeted us with a warm smile and hug, and proudly showed us how she had replaced the wooden shutter with a glass window so she could look out on the woods that surrounded the makeshift camp where she and other earthquake survivors were living. She had turned her misfortune into an adventure, and found cause to celebrate in spite of the catastrophe.

There were many others like her. A fisherman said to me as we stood together and took in the desolation along the waterfront, “Do you see that tree standing alone in the middle of nothing? That is the center of what used to be our garden, and our house stood to the right of there. I’ve lost everything else, but I thank God that I still have my family—my wife and all of our kids. How can I complain?” We prayed together for him to find a good job, as the local economy had come to a virtual standstill after the earthquake.

His faith, optimism, and gratitude paid off. When I met him again two months later, he told me that shortly after our previous visit he had found a job where he now earns twice as much as he had before.

When faced with difficult circumstances, many people become embittered and blame God for their plight. Not so with these and other brave survivors who chose instead to focus on the positive and keep their heads up in spite of adversity.

Thái độ chính là sự quyết định

Gabriel Garcia V.

Thái độ của chúng ta đối với cuộc sống có quyết định đến mức độ hạnh phúc của chúng ta không? Tôi bắt đầu nhận ra sự liên quan trong khi làm công tác tình nguyện giúp đỡ những người còn sống sót trong trận động đất và sóng thần đến tiếp sau đó đã tàn phá rất nhiều nơi ở Chile vào tháng 2 năm 2010. Nhóm của chúng tôi đã gặp được những người can đảm và vô cùng lạc quan, những người đã tìm cách để suy nghĩ và hành động tích cực nhất ngay trong hoàn cảnh vô cùng tồi tệ ấy.

Vào chuyến đi đầu tiên đến nơi xảy ra thiên tai, chúng tôi gặp một người phụ nữ làm chủ một tiệm làm tóc trước đây. Những đợt sóng thủy triều quét qua tiệm của cô, để lại phía sau nó là sự tàn phá hoàn toàn. Khi cô ấy đào trong đống bùn nơi căn tiệm trước đây, cô ấy chỉ tìm thấy một cây kéo, chiếc chuông báo động, và một tấm khăn choàng. Thật kỳ lạ khi đợt sóng không làm hư hỏng tấm gương lớn của cô. Tạ ơn rằng cô vẫn còn một vài đồ cô cần, cô lau chúng và mở cửa làm việc lại.

Sau đó, trong lúc phân phát những hộp thức ăn, chúng tôi đã gặp lại cô trong căn nhà dựng tạm chỉ có một phòng đơn sơ của cô. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười thân thiện và một cái ôm, và tự hào chỉ cho chúng tôi thấy cánh cửa gỗ được thay bằng cửa kính, nhờ đó, cô có thể nhìn ra những rừng cây xung quanh khu trại dựng tạm, nơi cô và những nạn nhân sống sót khác trong vụ động đất đang sinh sống. Cô ấy đã biến điều không may thành một trải nghiệm phiêu lưu và tìm thấy nguyên nhân để chúc mừng dù trong thảm họa.

Có rất nhiều người khác giống cô ấy. Một người ngư dân nói với tôi khi chúng tôi đứng cùng nhau và nhìn cảnh hoang tàn dọc bờ sông: “Bạn có nhìn thấy cái cây đứng trơ trọi một mình không? Đó chính là vị trí chính giữa của khu vườn trước đây của chúng tôi, còn nhà của chúng tôi ở ngay kia. Tôi đã mất hết mọi thứ khác, nhưng tạ ơn Chúa vì tôi vẫn còn gia đình—vợ và tất cả những đứa con của chúng tôi. Sao tôi có thể phàn nàn cho được?” Chúng tôi cùng nhau cầu nguyện để cầu xin cho anh tìm thấy một công việc tốt, khi nền kinh tế địa phương thực sự bế tắc sau trận động đất.

Lòng tin, sự lạc quan và biết ơn của anh đã được đền bù. Khi gặp lại anh sau đó 2 tháng, anh nói với tôi rằng không lâu sau buổi gặp gỡ với chúng tôi trước đó, anh đã tìm được công việc trả cho anh lương gấp 2 lần so với công việc trước đây.

Khi đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn, rất nhiều người trở nên cay nghiệt và oán trách Chúa về cảnh ngộ khốn khổ của họ. Nhưng điều ấy không xảy ra nơi những người này và những người sống sót can đảm khác, những người lựa chọn chú ý đến điều tích cực và ngẩng cao đầu mặc cho nghịch cảnh.

Good Lord!

By Phillip Lynch

Sometimes I’m amazed at how dense I can be! I’ve been reading the Bible regularly for the past 40 years, but it was only yesterday that something so elementary struck me that I wondered where my head had been the past four decades.

I’ve been bothered recently by what a raw deal God usually gets. In many of the books I’ve read and the television shows and movies I’ve watched, it seems that whenever God comes up, He is portrayed as hard and unyielding, even mean. I was getting tired of this portrayal because it simply doesn’t match up with the God I know. At the same time, I admit that I have myself also occasionally wondered about God’s goodness—not so much whether He was good, but rather if I was the only one somehow missing out on it. But even when battling with my own questions about God’s justness, I knew that these other portrayals were grossly unfair.

I was thinking about this and how God must get fed up with humanity’s grumblings and accusations, when the words came to me, “Love endures long and is patient and kind.”1 I recognized them immediately as part of Apostle Paul’s famous discourse on love. Then I was reminded of how John the Beloved captured the essence of God’s nature in three simple words: “God is love.”2 It struck me that the passage in 1 Corinthians was also describing God.

What a God! He puts up with us because it is in His nature to. His justice and righteousness are tempered with infinite patience, kindness, forbearance, and a readiness to always believe the best about each of us. He is a God who endures all that we unjustly throw at Him; He isn’t conceited, arrogant, rude, unbecoming, self-seeking, touchy, fretful, resentful, or vengeful. He is a God who will freely and graciously give us all things.

What struck me the hardest was that while I was pointing to specks of dust in the eyes of these authors and scriptwriters who I thought were giving God such a raw deal, I was excusing the log in my own eye when I complained to God about His “neglecting” me. As I said, I can be dense.

Đức Chúa tốt lành!

Phillip Lynch

Đôi khi, tôi ngạc nhiên trước sự ngu xuẩn của mình! Tôi đã đọc Kinh Thánh đều đặn suốt 40 năm qua, nhưng chỉ ngày hôm qua, điều gì đó rất cơ bản tác động mạnh đến tôi khiến tôi tự hỏi suốt 4 thập kỷ qua tâm trí tôi đã ở đâu.

Dạo gần đây, tôi băn khoăn về những đối xử không công bằng mà Chúa thường nhận lấy. Trong rất nhiều quyển sách tôi đã đọc và những chương trình truyền hình và những bộ phim tôi đã xem, dường như bất cứ lúc nào có Chúa xuất hiện, Ngài đều được miêu tả rất cứng rắn, không nhượng bộ và thậm chí là chi li. Tôi cảm thấy chán với hình tượng này bởi vì đơn giản là nó không đúng với Đức Chúa mà tôi biết. Cùng lúc, tôi thừa nhận rằng, bản thân tôi đôi khi cũng muốn biết về sự tốt lành của Chúa—không phải quá bận tâm về việc liệu Chúa có tốt lành không, nhưng liệu có phải tôi là người duy nhất bị lỡ mất cơ hội nhận biết sự tốt lành của Ngài không. Nhưng dù tôi băn khoăn với những câu hỏi về sự công bằng của Chúa, tôi biết rằng những miêu tả khác hoàn toàn sai lệch.

Tôi suy nghĩ về điều này và về việc Thiên Chúa chắc phải ngán ngẫm với những lời buộc tội và càu nhàu của nhân loại, khi những từ đến với tôi: “Tình yêu thì nhẫn nhục, kiên nhẫn và hiền hậu” (1 Cr 13:4). Tôi nhận ra ngay những từ ấy nằm trong bài viết nổi tiếng của Tông đồ Phaolô về tình yêu. Kế đến, tôi nhớ về những từ đơn giản mà Gioan dùng để nói về bản chất của Chúa: “Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Tôi chợt nhận ra 1Cr cũng miêu tả về Chúa.

Thiên Chúa thật tuyệt vời! Thiên Chúa kiên nhẫn với chúng ta bởi vì đó chính là bản chất của Ngài. Sự công chính và công bằng của Ngài hòa với sự kiên nhẫn, hiền hậu, chịu đựng vô bờ bến và luôn sẵn lòng tin điều tốt nhất ở mỗi chúng ta. Ngài chính là Đức Chúa chịu đựng tất cả những gì không chính đáng chúng ta đối xử với Ngài; Ngài không tự phụ, ngạo mạn, thô lỗ, không chính đáng, chỉ biết tìm tư lợi, hay giận, hay cáu kỉnh, hay phẫn uất, hoặc căm thù. Ngài là Đức Chúa, Đấng mang cho chúng ta mọi thứ một cách nhưng không và rộng lượng (Xem Rm 8:32).

Điều tác động đến tôi mạnh mẽ nhất chính là khi tôi chỉ ra những hạt bụi nhỏ trong mắt của những tác giả và những nhà biên kịch này, những người mà tôi nghĩ đã không đối xử công bằng với Chúa, chính là tôi đang biện hộ cho cây xà trong mắt của tôi khi phàn nàn với Chúa về việc Ngài “bỏ mặc” tôi. Như tôi đã nói, tôi thật ngu xuẩn. n

Why do you see the speck that is in your brother’s eye but do not notice or consider the beam [of timber] that is in your own eye? … First take the beam out of your own eye, and then you will see clearly to take out the speck that is in your brother’s eye.
—Jesus, Luke 6:41–42 AMP.

Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới? … Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi ra trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt ngừoi anh em!—Chúa Giêsu, Lc 6:41-41

The Nature of God

Love endures long and is patient and kind; love never is envious nor boils over with jealousy, is not boastful or vainglorious, does not display itself haughtily.

It is not conceited (arrogant and inflated with pride); it is not rude (unmannerly) and does not act unbecomingly. Love (God’s love in us) does not insist on its own rights or its own way, for it is not self-seeking; it is not touchy or fretful or resentful; it takes no account of the evil done to it [it pays no attention to a suffered wrong].

It does not rejoice at injustice and unrighteousness, but rejoices when right and truth prevail.

Love bears up under anything and everything that comes, is ever ready to believe the best of every person, its hopes are fadeless under all circumstances, and it endures everything [without weakening].

Love never fails [never fades out or becomes obsolete or comes to an end]. As for prophecy ([a]the gift of interpreting the divine will and purpose), it will be fulfilled and pass away; as for tongues, they will be destroyed and cease; as for knowledge, it will pass away [it will lose its value and be superseded by truth].

—Apostle Paul, 1 Corinthians 13:4–8 AMP ■

Bản chất của Chúa

Tình yêu thì nhẫn nhục, hiền hậu; tình yêu không bao giờ đố kỵ hoặc sôi sục vì ghen tuông, tình yêu không tự đắc hay khoe khoang, hoặc ngạo mạn.

Tình yêu không bao giờ vênh vang tự đắc (ngạo mạn và huênh hoang với sự tự mãn); tình yêu không cư xử khiếm nhã (thiếu lễ độ) và không làm điều bất chính. Tình yêu (tình yêu Chúa trong chúng ta) không cậy quyền hoặc khăng khăng làm theo ý mình, không tìm tư lợi; tình yêu không nóng giận hay cáu kỉnh hay phẫn uất; tình yêu không làm điều bất chính [tình yêu không quan tâm đến điều sai trái làm tổn thương].

Tình yêu không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.

Tình yêu chống chịu được bất cứ điều gì và mọi thứ xảy đến, tình yêu luôn sẵn sàng tin tưởng điều tốt đẹp nhất nơi mọi người, niềm hy vọng của tình yêu không phai nhạt trong mọi hoàn cảnh, và nó chịu đựng tất cả [mà không bị suy yếu].

Tình yêu không bao giờ mất [không bao giờ phai nhạt hoặc không lỗi thời hoặc kết thúc]. Ơn nói tiên tri (ơn giải thích mục đích và ý định thần thánh) rồi sẽ hoàn tất và qua đi; ơn nói tiếng lạ sẽ hết và chẳng còn; ơn hiểu biết cũng sẽ qua đi [nó sẽ hết giá trị và bị thay thế bởi chân lý].

—Tông đồ Phaolô, 1 Cr 13:4-8

What If?

By Joe Johnston

Kika was six years old, with beautiful blue eyes and a smile that could melt the iciest heart. Kika liked stuffed kittens and ice cream and blowing bubbles. She was learning her alphabet and how to count backwards from ten. But Kika had never taken a step in her life.

She was paralyzed from the waist down, having been born with a condition called spina bifida. She had a tiny wheelchair in which she raced around the house, and there was a larger one parked under the staircase for her to grow into.

Kika never complained about her condition. That was simply life to her—how it had always been—and she enjoyed every minute of it. Some said that at night, when everyone was asleep, Kika would pull out her halo, don a tiny pair of gossamer cherub wings, and glide around the house to check on people—her family and the dozen or so other Christian volunteers, myself included, with whom she was living. Kika shone. Kika was our angel.

She yawned that morning as her father carried her down the stairs and set her on the sofa. The rest of us had already gathered and were waiting for dad. Daddy was smiling broadly.

“Today we’re going to start with a little exercise called ‘What If?’ We’ll go clockwise, beginning with Ben.”

We knew how this one went. The first person would give a short scenario in which something terrible had happened, and the next person in the circle would imagine himself in that dire circumstance and find some positive aspect about it or possible positive outcome, and thank God for that.

There was a brief pause and mischievous smirks played around the corners of various mouths as scenarios were being prepared.

Ben cleared his throat. “Okay, Joy, what if your glasses got scratched so badly that you couldn’t use them?”

Joy smiled. “I would be thankful that now there was nothing to stop me from getting the contact lenses that I’ve been deliberating over.”

“What If?” got people thinking in a positive direction—a smashing way to begin the day. It was also good preparation for when bad things happen, which they do.

“What if you were bitten by a black widow spider?” the next person asked. This was an all too likely possibility on the ranch in Mexico where we lived. We had killed a number of black widows already, some with bodies nearly the size of a man’s thumbnail.

“I would thank God that two of our nearest neighbors are doctors.” Good thing! The venom of a black widow acts quickly.

“What if you sprained your wrist?” The room erupted in laughter. Patrick, who was next in the circle, shot arrows from his eyes. He really had sprained his wrist and was still recovering.

“If I ever sprained my wrist—God forbid!—I would be thankful that I would be excused from my turn washing dishes for a loooong time.” Excellent answer.

“Okay, I have one. Say you really liked strawberries, but it wasn’t strawberry season. You had looked all around town without finding any, but finally, in the very last store, there was one small box of strawberries—the most beautiful, sweetest-smelling strawberries ever. You buy them and leave the store, but as you step from the curb, a taxi zooms past and knocks them from your hand. The box is flattened and the strawberries are mush. What would you be thankful for?”

“Strawberry jam!” The room applauded. Nice escape from a tight spot.

“What if you got home from a long, sweaty, dusty day, working outdoors, and when you went to take a shower, there was no water?” Another all-too-familiar scenario on the ranch.

“I would thank God that it suddenly started pouring rain, and that I could put on my bathing suit, step outside, and rinse off in the rain!”

“That’s not fair! What if it didn’t start raining?”

“Of course it would! Thankfulness sets miracles in motion!”

That brought things around to the last person in the circle, Kika’s daddy. Stifling a smile, he said, “Okay, what if…” He paused for effect. “What if your daughter was born with spina bifida? And what if her one wish was to have a Geiger machine—a revolutionary piece of technology that stimulates the nervous system of spina bifida patients and might eventually make it possible for your little girl to walk on her own?

“Then, what if this morning you received a letter from a friend who wrote, ‘I hope you received the check for $2,000 that I sent you to put toward a Geiger machine for Kika’?”

The Geiger machine would cost $10,000, but $2,000 was a wonderful start. The miracle had been set in motion.

Sẽ thế nào?

Joe Johnston

Kika sáu tuổi, với đôi mắt xanh xinh đẹp và nụ cười có thế làm tan chảy trái tim băng giá nhất. Kika thích những thứ như mèo con, kem và thổi bong bóng. Cô bé học đọc bảng chữ cái và đếm ngược từ mười. Nhưng Kika chưa bao giờ bước một bước nào trong cuộc đời.

Cô bé bị liệt từ vùng thắt lưng trở xuống, mới sinh ra đã mắc tật nứt đốt sống. Cô bé ngồi trên chiếc xe lăn bé xíu và đi quanh nhà, và có một chiếc lớn hơn đặt dưới cầu thang để cô bé vẫn còn có thể sử dụng được khi lớn hơn.

Kika không bao giờ phàn nàn về tình cảnh của mình. Đối với cô bé đó đơn giản cuộc sống là thế—và cô bé tận hưởng từng giây phút cuộc sống. Một số người nói rằng, vào buổi tối, khi mọi người đều đã ngủ say, Kika lấy vòng hào quang, mang đôi cánh của cherub, và lượn quanh nhà để kiểm tra mọi người—gia đình của cô bé và những tín hữu tình nguyện khác, bao gồm cả tôi, những người mà cô bé sống cùng. Kika chiếu sáng. Kika chính là thiên thần của chúng tôi.

Cô bé ngáp vào buổi sáng khi ba của bé ẵm bé xuống cầu thang và đặt bé ngồi xuống chiếc ghế sofa. Mấy anh chị em chúng tôi đang ngồi chờ bố. Bố bước xuống cười thật tươi.

“Hôm nay, chúng ta sẽ có một bài tập nhỏ gọi là “sẽ thế nào nếu?” Chúng ta sẽ đi theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu với Ben.”

Chúng tôi biết bài tập này thế nào. Người đầu tiên đưa ra một ngữ cảnh ngắn về một chuyện gì đó kinh khủng xảy ra, và người kế tiếp trong vòng tròn sẽ tưởng tượng mình ở vào hoàn cảnh thảm khốc ấy và tìm ra khía cạnh tích cực hoặc kết quả tích cực có thể nào đó, và tạ ơn Chúa về điều đó.

Một lúc tạm ngưng ngắn ngủi và những nụ cười ranh mảnh nơi những vành môi khác nhau khi những ngữ cảnh được chuẩn bị.

Ben tằn hắn và bắt đầu: “Được rồi, Joy, sẽ thế nào, nếu kính của chị bị trầy nghiêm trọng và chị không thể sử dụng chúng?”

Joy mỉm cười. “Chị sẽ rất biết ơn về điều đó, vì giờ đây không còn gì ngăn chị dùng kính sát tròng và không còn lệ thuộc vào cặp kính nữa.”

Câu hỏi “Sẽ thế nào nếu?” đã thực sự giúp mọi người suy nghĩ theo hướng tích cực—một cách tốt để bắt đầu một ngày mới. Nó cũng là một sự chuẩn bị tốt khi có những điều tồi tệ xảy ra, vốn dĩ thường xảy ra.

“Sẽ thế nào nếu em bị cắn bởi một con nhện góa phụ đen?” người kế tiếp hỏi. Đây là một khả năng hoàn toàn có thể xảy ra tại trại nuôi súc vật ở Mexico, nơi chúng tôi đang sinh sống. Chúng tôi đã giết một vài con nhện góa phụ đen, một vài con có thân hình gần bằng ngón tay cái.

“Em sẽ tạ ơn Chúa vì hai người hàng xóm gần nhà mình nhất là bác sĩ.” Hay! Nộc độc của nhện góa phụ đen chạy rất nhanh.

“Sẽ thế nào nếu cổ tay của bạn bị bông gân?” Cả căn phòng vỡ cười. Patrict, là người kế tiếp, với cặp mắt dữ tợn. Anh thật sự bị bông gân và vẫn chưa khỏi.

“Nếu em bị bông gân tay—Cầu Chúa đừng có chuyện đó!—Em sẽ tạ ơn vì mình có thể tránh rửa chén suốt thời gian dài khi đến lượt của mình.” Một câu trả lời xuất sắc.

“Được rồi, chị có một tình huống. Ví dụ em thật sự rất thích dâu, nhưng không phải vào mùa dâu. Em tìm khắp thị trấn và không tìm thấy bất kỳ một quả nào, nhưng cuối cùng, trong một tiệm cuối cùng, có một hộp dâu nhỏ—những trái dâu ngọt ngào nhất, và căng mọng nhất chưa từng thấy. Em mua chúng và rời khỏi cửa tiệm, nhưng khi vừa bước xuống lề đường, một chiếc taxi chạy ngang sát qua và hất chúng khỏi tay em. Chiếc hộp bị cán qua và những quả dâu bị cán nát. Em sẽ tạ ơn về điều gì?”

“Món mứt dâu!” Cả căn phòng vỗ tay. Một cú thoát đẹp khỏi tình huống khó.

“Sẽ thế nào nếu em về nhà sau một ngày làm việc dài, mồ hôi nhễ nhại, và đầy bụi bặm, và khi bước vào phòng tắm, không có nước?” Một tình huống khác tương tự.

“Chị sẽ tạ ơn Chúa về một cơn mưa bất thình lình, và chị có thể mặc đồ tắm, bước ra ngoài, và tắm mưa!”

“Không hợp lý! Sẽ thế nào nếu không có mưa?”

“Lẽ dĩ nhiên sẽ có! Sự tạ ơn sẽ làm cho phép lạ xuất hiện!”

Đi đến người cuối cùng, bố của Kika. Cố gắng không cười, ông nói: “Sẽ thế nào nếu…” Ông ngừng một chút. “Sẽ thế nào nếu con gái của bạn sinh ra với căn bệnh nứt đốt sống? Và sẽ thế nào nếu điều ước của cô bé chính là có được một chiếc máy Geiger—một chiếc máy cách mạng về công nghệ có thể kích thích hệ thống thần kinh của những bệnh nhân mắc tật nứt đốt sống và cuối cùng có thể giúp cho đứa con gái bé bỏng của bạn tự đi được?

“Và rồi, sẽ thế nào nếu sáng nay, bạn nhận được một bức thư từ một người bạn viết rằng: “Tôi hy vọng anh nhận được tờ chi phiếu 2,000 đôla tôi đã gửi cho anh để mua chiếc máy Geiger cho Kika?”

Chiếc máy Geiger trị giá 10,000 đôla nhưng, 2,000 đôla chính là một sự khởi đầu tuyệt vời. Phép lạ đã bắt đầu xuất hiện.

Thanksgiving thoughts

By Maria Fontaine

Thanksgiving is primarily a North American holiday, celebrated in the U.S. in November and Canada in October, but it would be nice if the whole world would designate a day to reflect on and thank God for His goodness. Our Creator has bestowed so many gifts on humankind. He gave us the gift of life and a marvel-filled world to spend it in, replete with an endless variety of beauty and beautiful experiences. As the Bible says, God has made everything beautiful for its own time and purpose.1

He has given us the love of family and friends, and every joy that we experience. Not only has He given us the gift of life as we know it, but He has promised that our souls will outlive this earthly existence. He offers us a future in eternity through His Son, Jesus Christ.

The Bible says, “In everything give thanks; for this is the will of God,”2 and we are invited to enter into God’s presence with praise and thanksgiving.3 When you stop to think about all that God has given you, doesn’t it make you want to express your gratitude?

But you may wonder how you should thank Him. You may not know how to put your thanks into words, or maybe you feel your words aren’t eloquent enough. Take heart. God isn’t looking for carefully crafted or perfectly articulated expressions of gratitude. He delights in hearing heartfelt thanks, with words that may be many or few, lofty or simple, flowing or halting. God sees the praise in your heart and translates it into poetry set to beautiful melodies.

Những suy nghĩ biết ơn

Maria Fontaine

Lễ tạ ơn ban đầu là ngày lễ ở Bắc Mỹ, được kỷ niệm ở Mỹ vào tháng 11 và ở Canada vào tháng 10, nhưng sẽ hay biết mấy nếu toàn thế giới dành ra một ngày để suy ngẫm và tạ ơn Chúa về sự tốt lành của Ngài. Đấng Tạo Hóa của chúng ta đã ban xuống rất nhiều những món quà cho nhân loại. Ngài đã ban cho chúng ta món quà sự sống và một thế giới đầy những điều tuyệt diệu để chúng ta sống, và tràn đầy những trải nghiệm tuyệt vời và những vẻ đẹp vô cùng phong phú. Như Kinh Thánh nói, Thiên Chúa đã làm mọi sự tốt đẹp hợp thời đúng lúc (xem Gv 3:11).

Ngài đã ban cho chúng ta tình yêu gia đình và bạn bè, và mọi niềm vui mà chúng ta trải nghiệm. Ngài không chỉ ban cho chúng ta món quà sự sống như chúng ta biết, mà Ngài đã hứa rằng linh hồn của chúng ta sẽ sống tiếp sau khi sự tồn tại nơi thế gian qua đi. Ngài ban cho chúng ta một tương lai vĩnh cửu thông qua Con của ngài, Chúa Giêsu Cứu Thế.

Kinh Thánh nói: “Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh; vì đó là điều Thiên Chúa muốn” (1 Tx 5:18), và chúng ta được mời gọi bước vào nhan Thánh Ngài bằng lời tạ ơn và ngợi khen (Tv 100:4). Khi bạn ngừng để nghĩ về tất cả những gì Chúa đã ban cho bạn, có phải nó khiến bạn muốn bày tỏ lòng biết ơn?

Nhưng có thể bạn tự hỏi bạn nên tạ ơn Chúa thế nào. Có thể bạn không biết làm thế nào diễn tả sự biết ơn bằng lời, hoặc có thể bạn cảm thấy những từ ngữ của bạn không đủ hùng hồn để diễn tả. Hãy yên tâm. Chúa không tìm kiếm những sự bày tỏ lòng biết ơn được thể hiện một cách thật rõ ràng hoặc với ngôn từ cẩn trọng. Ngài vui khi nghe những lời tạ ơn chân thành, với những từ nhiều hoặc ít, cao quý hay đơn giản, trôi chảy hay ngập ngừng. Chúa nhìn thấy sự ngợi khen nơi trái tim của bạn và chuyển chúng thành những vần thơ với giai điệu tuyệt đẹp.

Praise for the day

Lord, I lift my heart, mind, and spirit to You in prayer, praise, and thanksgiving. You are the giver of all good things, and You are all good things to me.

You are my Creator, my Father, the source of life and strength. You cause the sun to rise, the light to shine, the night to come. You hold me in Your arms. You console me in my sadness. You warm me with Your love. You shield me and protect me and provide for me.

All peace, contentment, and blessings come from Your hand. I praise and honor and thank You. Amen. ■

Lời ngợi khen cho ngày

Lạy Chúa, con xin nâng tâm hồn, tâm trí và tinh thần con lên với Ngài trong lời cầu nguyện, ngợi khen và tạ ơn. Ngài chính là Đấng ban mọi điều tốt lành, và Ngài là tất cả những gì tốt đẹp đối với con.

Ngài chính là Đấng Tạo Dựng nên con, là Cha của con, là nguồn sức mạnh và sự sống của con. Ngài làm cho mặt trời mọc, và ánh sáng chiếu sáng, bóng tối sập xuống. Ngài ôm con trong cánh tay Ngài. Ngài an ủi con trong khi con u buồn. Ngài sưởi ấm con bằng tình yêu của Ngài. Ngài che chở cho con, bảo vệ con và chu cấp cho con.

Tất cả bình an, sự thỏa lòng và những ơn lành đều đến từ Ngài. Con ngợi khen, tôn vinh và tạ ơn Ngài. Amen.

I am Thanksgiving

By Jessie Richards

A rather odd thought popped into my head last Thanksgiving Eve, out of the blue: “I am Thanksgiving.” I think the Thanksgiving holiday is great! What’s not to love about a day centered on a bright spot in history, gratefulness, family, and good food? Then again, I also love Christmas, for mostly the same reasons, but I would never say “I am Christmas.”

I went for a run on Thanksgiving morning and, amid the gold and red autumn leaves that adorned the trees along my way, reviewed the year to that point. It would come to a close soon, and although it hadn’t been all smooth sailing, I had thoroughly enjoyed it, even the challenging bits. Most of the things I had been concerned about had either already been resolved or solutions were in the works. The answer to one rather substantial personal dilemma that I had been struggling with for some time had come to me in a flash just a couple of days earlier. I was surprised I hadn’t seen it sooner. It was so simple and beautiful! I was happy and grateful and already telling my family and friends about it.

I then started musing on that thought from the previous day and had an epiphany. “I am thanksgiving” perfectly embodies the kind of person I want to be, the way I want to live my life, what I want to be known for. It’s a different way of saying, “I give thanks to God,” but I want to do more than that; I want to live in that state of being grateful and I want to voice it. All the time. “I am thanksgiving” goes a step further than simply being thankful or being grateful, which can be done rather passively.

So I now proudly affirm that thanksgiving is not just something in which I participate on occasion, or in the back of my mind, or once a year while gathered around a table with family and friends and football games and heaping plates of food! May gratefulness and thanksgiving always be a part of who I am and permeate everything I say and do.

I am thanksgiving, and I’m always going to smile about something!

Tôi biết ơn

Jessie Richards

Một suy nghĩ khá kỳ lạ xuất hiện trong đầu tôi vào trước ngày lễ tạ ơn năm ngoái, rất bất ngờ: “Tôi biết ơn.” Tôi nghĩ Lễ Tạ Ơn rất tuyệt vời! Tại sao lại không thích một ngày hướng sự tập trung vào một điểm sáng trong lịch sự, sự biết ơn, gia đình và những món ăn ngon? Thêm vào đó, tôi cũng thích Giáng Sinh, vì những lý do tương tự, nhưng tôi không bao giờ nói “Tôi là Giáng Sinh”.

Tôi chạy bộ vào buổi sáng Lễ Tạ Ơn, và giữa những chiếc lá thu sắc vàng, đỏ đang tô điểm dọc con đường của tôi, tôi xem xét lại năm qua cho đến thời điểm đó. Tôi sắp tiến đến gần thời điểm cuối năm, và mặc dù năm qua không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió, thậm chí là những khoảng thời gian thách thức, tôi đã luôn tận hưởng những niềm vui. Đa phần những gì tôi quan tâm đều hoặc đã được giải quyết hoặc những giải pháp đang phát huy tác dụng. Câu trả lời cho một tình huống riêng tư khó xử khá nghiêm trọng đã đến với tôi trong tích tắc vài ngày trước. Tôi ngạc nhiên vì mình đã không nhìn thấy được nó sớm hơn. Câu trả lời thật đơn giản và tuyệt vời! Tôi hạnh phúc, biết ơn và kể cho gia đình và bạn bè của tôi nghe.

Sau đó, tôi bắt đầu ngẫm nghĩ về suy nghĩ nghĩ hôm trước và chợt nhận ra. “Tôi biết ơn” tượng trưng một cách hoàn hảo cho kiểu người mà tôi muốn trở thành, cách mà tôi muốn sống cuộc sống của mình, điều mà tôi muốn được biết đến. Đó là một cách nói khác rằng: “Tôi dâng lời tạ ơn Chúa,” nhưng tôi muốn làm nhiều hơn thế; tôi muốn sống tâm tình biết ơn và tôi muốn thể hiện bằng lời nói. Mọi lúc. “Tôi biết ơn” tiến đến một bước xa hơn là chỉ đơn giản tạ hơn hoặc biết ơn, vốn dĩ có thể được thực hiện một cách hơi thụ động.

Vì thế, giờ đây tôi hãnh diện khẳng định rằng tạ ơn không chỉ là điều gì đó chúng ta thỉnh thoảng thực hiệnmột cách có ý thức, hoặc một lần trong năm khi quây quần bên bàn ăn cùng với gia đình, bạn bè, những trận đá bóng và múc đầy những dĩa thức ăn! Nguyện xin sự tạ ơn và lòng biết ơn luôn là một phần bản chất của tôi và luôn được thể hiện nơi tất cả những gì tôi nói và làm.

Tôi tạ ơn, và tôi sẽ luôn mỉm cười về điều gì đó!

Answers to your questions

Acting upbeat when feeling down

Q: I’ve been happier than ever since finding Jesus, but I still have problems and sometimes get quite down. My friends try to cheer me up and tell me to “put on my happy face,” but how can I smile and look happy when I really don’t feel that way? Wouldn’t that be hypocritical?

A: It is not being hypocritical to put on a happy face even when you don’t feel happy. It’s a sign of inner strength and maturity. It shows you realize that whatever is dragging you down at the moment is relatively small in the grand scope of things, and that it will pass.

It’s loving and considerate to be cheerful around others, smiling even when you don’t really feel like it. It’s considerate to try not to allow your facial expression to drag other people down with you or send a wrong signal, as though you’re down because you don’t like being around them.

Acting more positive than you feel also does you good and will often help bring you out of your funk.

Of course, the best thing would be to get over whatever it is that’s getting you down, and the best first step in that direction is usually to talk it over with Jesus and ask Him to help you fix the problem. If there is someone else who might be able to help you sort things out, it may also be good to talk with them. There’s a time to look pleasant and smile—which is most of the time when you’re with others—but there’s also a time to turn to the Lord and others for help.1 ■

Trả lời những câu hỏi của bạn

Hành động lạc quan dù đang chán nản

H: Tôi cảm thấy hạnh phúc hơn kể từ khi tôi tìm thấy Chúa Giêsu, nhưng tôi vẫn gặp khó khăn và đôi lúc hơi chán nản. Bạn bè cố làm tôi vui và nói với tôi “hãy mang lấy khuôn mặt hạnh phúc”, nhưng làm thế nào tôi có thể cười và trông hạnh phúc khi tôi không thật sự cảm thấy như vậy? Nếu như thế chẳng phải là giả tạo sao?

T: Không hề giả tạo khi mang lấy một vẻ mặt hạnh phúc ngay cả khi bạn không cảm thấy hạnh phúc. Đó là dấu hiệu của một sức mạnh và sự trưởng thành từ nội tâm. Nó cho thấy bạn nhận ra rằng cho dù bất cứ điều gì làm bạn chán chường ngay lúc hiện tại cũng chỉ là nhỏ nhoi trong cuộc sống vô vàn rộng lớn, và rồi khó khăn sẽ qua.

Việc bạn vui vẻ ở bên mọi người, mỉm cười ngay cả khi bạn không thật sự cảm thấy thoải mái chính là hành động yêu thương và biết quan tâm. Đó là sự quan tâm chu đáo cố gắng không để vẻ mặt của mình làm ảnh hưởng tiêu cực đến mọi người, hoặc gửi thông điệp sai đến mọi người như thể bạn buồn bởi vì bạn không thích ở bên họ.

Hành động tích cực hơn tâm trạng của bạn cũng giúp ích cho bạn và sẽ thường giúp mang bạn ra khỏi nỗi sợ hãi của mình.

Lẽ dĩ nhiên, điều tốt nhất chính là vượt qua được điều đang khiến bạn chán nản, và bước đầu tiên tốt nhất trong hướng ấy chính là thường xuyên trò chuyện với Chúa Giêsu và xin Ngài giúp bạn giải quyết vấn đề. Nếu có ai đó có thể giúp bạn phân tích sự việc, cũng có ích khi trò chuyện với họ. Có lúc cần trông tươi tắn và vui vẻ—những lúc ở bên người khác—nhưng cũng có lúc quay sang nhờ Chúa và người khác giúp đỡ (Xem Gc 5:16; Gl 6:2).

Simple joys

For most of life, nothing wonderful happens. If you don’t enjoy getting up and working and finishing your work and sitting down to a meal with family or friends, then the chances are that you’re not going to be very happy. If someone bases his happiness or unhappiness on major events like a great new job, huge amounts of money, a flawlessly happy marriage or a trip to Paris, that person isn’t going to be happy much of the time. If, on the other hand, happiness depends on a good breakfast, flowers in the yard, a drink or a nap, then we are more likely to live with quite a bit of happiness.

—Andy Rooney (1919–2011), American radio and television writer ■

Những niềm vui giản đơn

Trong phần lớn cuộc đời, không hề có điều tuyệt vời xảy ra. Nếu bạn không tận hưởng việc thức dậy, làm việc, hoàn thành công việc và ngồi xuống cùng ăn bữa ăn với gia đình và bạn bè, như thế, bạn sẽ không thể nào có lúc hạnh phúc được. Nếu ai đó đặt hạnh phúc của mình trên những điều lớn lao tương tự như có công việc mới tốt đẹp, một khoản tiền lớn, một hôn nhân hạnh phúc hoàn hảo hoặc một chuyến du lịch đến Paris, người ấy sẽ không có nhiều khoảng thời gian hạnh phúc. Mặt khác, nếu hạnh phúc là một buổi điểm tâm sáng ngon, những bông hoa trong khu vườn, thức uống ngon hoặc một buổi nghỉ trưa yên ả, như thế, hẵn bạn có thể sống với nhiều lúc hạnh phúc hơn.—Andy Rooney (1919-2011), nhà biên tập truyền hình và phát thanh người Mỹ

Points to Ponder

Happiness, Relaxation, and Enjoying life
Compiled by David Bolick

Come to Me, all you who labor and are heavy laden, and I will give you rest. Take My yoke upon you and learn from Me, for I am gentle and lowly in heart, and you will find rest for your souls. For My yoke is easy and My burden is light.—Jesus, Matthew 11:28–30

God can’t give us happiness and peace apart from Himself because there is no such thing.—C.S. Lewis (1898–1963), English novelist, poet, academic, critic, essayist, and apologist

A person is fully human when joy is the fundamental thing in him, and grief the superficial. Melancholy should be an innocent interlude, a tender and fugitive frame of mind; praise should be the permanent pulsation of the soul. Pessimism is at best an emotional half-holiday; joy is the uproarious labor by which all things live.—G. K. Chesterton (1874–1936), English philosopher, author, and apologist

No mockery in this world ever sounds to me so hollow as that of being told to cultivate happiness. Happiness is not a potato, to be planted in a mould and tilled with manure. Happiness is a glory shining far down upon us from heaven. She is a divine dew, which the soul feels dropping upon it from the amaranth bloom and golden fruitage of paradise.—Charlotte Brontë (1816–1855), English novelist and poet

I find my joy of living in the fierce and ruthless battles of life, and my pleasure comes from learning something, from being taught something.—August Strindberg (1849–1912), Swedish playwright, novelist, poet, essayist, and painter

It is true also that joy is in its nature more divine than sorrow; for, although man must sorrow, and God share in his sorrow, yet in himself God is not sorrowful, and the “glad creator” never made man for sorrow: wit is but a stormy strait through which he must pass to his ocean of peace.—George MacDonald (1824–1905), Scottish author, poet, and Christian minister

It is not the level of prosperity that makes for happiness but the kinship of heart to heart and the way we look at the world. Both attitudes are within our power. … A man is happy so long as he chooses to be happy, and no one can stop him.
—Alexander Solzhenitsyn
(1918–2008), Russian and Soviet novelist, dramatist, and historian ■

Những thoáng suy ngẫm

Hạnh phúc, thư giãn, và tận hưởng cuộc sống
Được biên soạn bởi David Bolick

Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học hỏi với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.—Chúa Giêsu, Mt 11:28-30

Chúa không thể mang cho chúng ta niềm hạnh phúc và bình an tách ra khỏi Ngài bởi vì không có hạnh phúc và bình an như thế.—C.S Lewis (1898-1963), nhà biện giải, nhà văn tiểu luận, nhà phê bình, viện sĩ, nhà thơ, và tiểu thuyết gia người Anh

Một người sung mãn nhất là khi niềm vui chính là điều cơ bản bên trong anh ta, và nỗi buồn chỉ là ở lớp bên ngoài. Nỗi sầu muộn chỉ là phần tạm nghỉ vô nghĩa, một tâm trạng nhạy cảm nhất thời, ngợi khen nên là nhịp đập liên hồi của tâm hồn. Bi quan chỉ được xem là kỳ nghỉ lễ nữa ngày của cảm xúc; niềm vui mới chính là ngày lao động nhộn nhịp mà nhờ đó mọi sự sống.—G.K. Chesterton (1874-1936), nhà biện giải, tác giả và nhà tâm lý học người Anh

Không một sự chế giễu nào trên thế giới này sáo rỗng đối với tôi cho bằng lời bảo rằng hãy vun trồng hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là củ khoai tây, được trồng dưới đất tơi xốp, và được bón phân. Hạnh phúc chính là ánh sáng rạng rỡ chiếu xuống trên chúng ta từ thiên đàng. Hạnh phúc là giọt sương mai thần thánh tưới mát tâm hồn ta từ những loài hoa bất tử nở rộ và quả ngọt chốn thiên đường.—Charlotte Bronte (1816-1855), tiểu thuyết gia, nhà thơ người Anh

Tôi tìm thấy niềm vui sống trong những cuộc chiến đấu không ngừng và dữ dội trong cuộc sống, và tìm thấy niềm vui đến từ việc học hỏi điều gì đó, từ việc được dạy cho biết điều gì đó.—August Stringdberg (1849-1912), họa sĩ, nhà viết tiểu luận, nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà viết kịch người Thụy Điển

Cũng thật đúng khi về bản chất, niềm vui thiêng liêng hơn nỗi buồn, bởi vì mặc dù nhân loại buồn phiền, và Thiên Chúa chia sẻ nỗi buồn, nhưng bản thân Ngài không buồn phiền, và “Đấng Tạo Hóa vui vẻ” không bao giờ khiến nhân loại buồn: nỗi buồn chỉ là một eo biển hẹp đầy giông bão mà con người phải vượt qua đến đến với đại dương bình an của Ngài.—George MacDonald (1824-1905), mục sư, nhà thơ, tác giả người Scốt-len.

Không phải sự thịnh vượng làm nên hạnh phúc nhưng chính mối quan hệ yêu thương và cách chúng ta nhìn thế giới mới làm nên hạnh phúc…. Con người hạnh phúc bao lâu họ biết lựa chọn để được hạnh phúc, và không ai có thể ngăn họ.—Alexander Solzhenitsyn (1918-2008), nhà sử học, nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia người Xô Viết và Nga.

5 ways to relax

By Iris Richard

Every morning I wake up and board an express train leaving from Fast Track Station. As I speed along life’s rails, I stare out the window and think. Where has the time gone? How did my children manage to grow up so quickly? Now it’s happening with my grandchildren. I catch my reflection in the window and wonder where all that gray hair came from. It seems like only yesterday…

In today’s ever-changing and expanding world, it’s hard to take the focus off of what is happening to us externally, the pressures of life on the fast track. But it’s through meeting our inner needs that we are renewed. It can start simply, as the following ideas suggest:

1. Invest in relationships. Don’t take friends and family for granted; these relationships need nurturing. Let people know that you appreciate them and are glad they’re part of your life. Try to surround yourself with happy people. Being around people who are upbeat buoys your own mood. And when you are cheerful and optimistic, you give something to those around you.

2. Take a brisk walk. Physical activity releases endorphins, the feel-good hormones in your body, which increases your sense of well-being and makes it easier to approach challenges positively. Exercise also improves your overall health. While you’re exercising, concentrate on deep, abdominal breathing. This will increase the amount of oxygen delivered to every cell of your body and flush toxins from your circulatory system.

3. Meditate. Focus on an object—a flower, a tree, a cloud—and take in its wonder. Or concentrate on a positive thought or a Bible verse. Let feelings of gratitude fill your mind and flood your spirit. Picture your troubles, confusion, and fears taking flight as you breathe slowly and deeply.

4. Pray. Prayer is like an extension of meditation. It has the same immediate benefits for body, mind, and spirit, but goes far beyond that; it is your link with your Creator and releases His power to work on your behalf.

5. Take time off. Most stress is work related. Make times to totally disengage from work and do something that will have a positive impact. And instead of picking up the nearest electronic device as your default diversion, try sketching or painting, creative writing, or reading a good book—something that will stimulate you in a new way and get your creative juices flowing.

5 cách để thư giãn

Iris Richard

Mỗi buổi sáng tôi thức dậy và lên tàu cao tốc rời ga. Khi tôi tăng tốc trên đường ray của cuộc sống, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và suy nghĩ. Thời gian trôi đi đâu? Làm thế nào những đứa con của tôi lớn nhanh đến thế? Giờ đây đến những đứa cháu của tôi. Tôi nhìn thấy chiếc bóng của mình qua ô cửa sổ và tự hỏi tất cả những sợi tóc bạc đến từ đâu. Có vẻ như chỉ mới hôm qua…

Trong thế giới không ngừng thay đổi và phát triển ngày nay, rất khó để không thôi tập trung vào những gì đang diễn ra xung quanh chúng ta, những áp lực của một cuộc sống vô cùng bận rộn và đầy những tham vọng. Nhưng thông qua việc đáp ứng những nhu cầu nội tâm của chính mình, tâm hồn chúng ta được đổi mới. Nó có thể được bắt đầu một cách đơn giản, hãy làm theo những gợi ý sau:

1. Đầu tư vào những mối quan hệ. Đừng xem thường bạn bè và gia đình; những mối quan hệ này cần được nuôi dưỡng. Hãy để mọi người biết rằng bạn biết ơn họ và vui mừng vì họ là một phần trong cuộc sống của bạn. Hãy cố gắng ở bên những người hạnh phúc. Ở bên những người lạc quan sẽ giúp nâng đỡ tâm trạng của chính bạn. Và khi bạn vui vẻ và lạc quan, bạn cho đi điều gì đó đến với những người xung quanh bạn.

2. Đi bộ nhanh. Hoạt động thể chất làm tiết ra chất endorphin, một loại hoocmon tạo cảm giác hưng phấn làm gia tăng cảm giác khỏe mạnh và làm cho việc tiếp cận với thách thức một cách tích cực trở nên dễ dàng hơn. Việc tập thể dục cũng cải thiện tình trạng sức khỏe chung của bạn. Trong lúc tập thể dục, hãy tập tung vào việc hít thở sâu bằng bụng. Việc hít thở này làm tăng lượng oxy được chuyển đến mọi tế bào trong cơ thể của bạn và đầy những độc tố ra khỏi hệ thống tuần hoàn máu.

3. Suy ngẫm. Tập trung vào một vật thể—một bông hoa, một cái cây, một đám mây—và chú ý đến những điều kỳ diệu của nó. Hoặc tập trung vào một suy nghĩ tích cực hoặc một câu Kinh Thánh. Hãy để cho những suy nghĩ về sự biết ơn đong đầy tâm trí, đong đầy tinh thần của bạn. Hãy tưởng tượng những khó khăn của bạn, sự bối rối, và những sợ hãi sẽ bay đi khi bạn hít thở chậm và sâu.

4. Cầu nguyện. Lời cầu nguyện giống như một sự mở rộng của việc suy ngẫm. Nó cũng có ích lợi tức thì lên cơ thể, tâm trí và tinh thần, nhưng đi xa hơn thế; nó nối kết bạn với Đấng Tạo Dựng nên bạn và phóng thích quyền năng của Ngài để hành động thay cho bạn.

5. Dành thời gian nghỉ ngơi. Hầu hết căng thẳng đều có liên quan đến công việc. Hãy dành thời gian để hoàn toàn thoát khỏi công việc và làm việc gì đó có tác động tích cực. Thay vì cầm lên thiết bị điện tử gần nhất như thói quen tiêu khiển quen thuộc của bạn, hãy thử vẽ hoặc sáng tác, hoặc đọc một quyển sách hay—điều gì đó sẽ kích thích nơi bạn một con đường mới và làm thúc đẩy dòng chảy sáng tạo trong bạn.

A Spiritual Exercise

Wonder and Appreciation
By Abi May

Imagine a small child with a birthday or Christmas present. Excitedly, the child tears off the wrapping paper to discover what’s inside. Eyes widen and a shriek of joy is heard as the new toy is revealed. Perhaps she hugs her new golden-haired doll, or he starts pushing his toy truck across the room.

That’s a simple picture of the sense of wonder and appreciation we read in the Psalms:

We give thanks to You, O God, we give thanks! For Your wondrous works declare that Your name is near.1

You are great, and do wondrous things.2

[I will] tell of all Your wondrous works.3

For this exercise, imagine yourself as that child, excited to receive so many gifts from God: health, family, friends, a roof overhead, livelihood, a beautiful world—the list is endless. Get excited as you unwrap each one in your mind’s eye and experience anew the wonder of each particular blessing. Tell God “Thank you!”

God’s goodness has been great to thee.—Let never day nor night unhallowed pass but still remember what the Lord hath done.
—William Shakespeare (1564–1616), English poet and playwright

If one should give me a dish of sand, and tell me there were particles of iron in it, I might look for them with my eyes, and search for them with my clumsy fingers, and be unable to detect them; but let me take a magnet and sweep through it, and now would it draw to itself the almost invisible particles by the mere power of attraction.

The unthankful heart, like my finger in the sand, discovers no mercies; but let the thankful heart sweep through the day, and as the magnet finds the iron, so it will find, in every hour, some heavenly blessings, only the iron in God’s sand is gold! —Henry Ward Beecher (1813–1887), American clergyman, social reformer, abolitionist, and speaker

Think excitement, talk excitement, act out excitement, and you are bound to become an excited person. Life will take on a new zest, deeper interest and greater meaning. You can think, talk and act yourself into dullness or into monotony or into unhappiness. By the same process you can build up inspiration, excitement and surging depth of joy.
—Norman Vincent Peale (1898–1993), American minister and author ■

1. Psalm 75:1

2. Psalm 86:10

3. Psalm 26:7

Bài luyện tập tinh thần

Sự kinh ngạc và biết ơn
Abi May

Hãy tưởng tưởng một đứa trẻ nhỏ khi được nhận quà sinh nhật hoặc quà Giáng Sinh. Vô cùng hào hứng, đứa trẻ xé giấy gói bên ngoài để xem món quà bên trong là gì. Đôi mắt mở to và hét lên vui sướng khi nhìn thấy món đồ chơi mới. Có lẽ cô bé sẽ ôm lấy búp bê tóc vàng mới của mình, hay cậu bé bắt đầu đẩy chiếc xe đồ chơi đi khắp phòng.

Đó chính là hình ảnh đơn giản về sự ngạc nhiên và biết ơn chúng ta đọc trong Thánh vịnh:

Lạy Thiên Chúa, chúng con xin tạ ơn Ngài, tạ ơn Ngài và cầu khẩn Thánh Danh, kỳ công Ngài, chúng con xin kể lại. (Tv 75:1)

Ngài thật cao cả, và làm nên những việc lạ lùng. (Tv 86:10)

[Con sẽ] hát bài cảm tạ tri ân và tường thuật mọi kỳ công của Ngài. (Tv 26:7)

Trong bài tập này, hãy tưởng tượng bạn là đứa bé ấy, háo hức đón nhận rất nhiều món quà từ Chúa: sức khỏe, gia đình, bạn bè, một mái nhà che nắng che mưa, công việc làm, một thế giới xinh đẹp—bảng liệt kê là vô tận. Hãy háo hức khi mở từng món quà một bằng con mắt tâm trí của bạn và trải nghiệm một lần nữa điều kỳ diệu của từng ơn lành cụ thể. Hãy nói với Chúa “Tạ ơn Ngài!”

Sự tốt lành của Chúa vô cùng trọng đại đối với bạn.—Đừng bao giờ để ngày hoặc đêm qua đi mà không được trân trọng nhưng hãy nhớ những gì Chúa đã làm.—William Shakepeare (1564-1616), nhà soạn kịch và nhà thơ người Anh

Nếu ai đó đưa cho tôi một đĩa cát, và nói với tôi có những mẩu sắt vụn trong đó, có thể tôi sẽ tìm kiếm bằng đôi mắt của mình, và tìm bằng đôi tay vụn về của mình, nhưng vẫn không thể tìm ra; hãy để tôi dùng thỏi nam châm để rà soát qua, và giờ đây, hầu hết những mẩu sắt không thể nhìn thấy tự động bị hít vào nhờ một lực hấp dẫn.

Một trái tim không biết ơn, cũng giống như ngón tay của tôi trong cát, không tìm thấy lòng thương xót; nhưng hãy để tâm hồn biết ơn trải qua một ngày, như thỏi nam châm tìm thấy sắt, tâm hồn biết ơn sẽ tìm thấy trong mọi lúc, những ơn lành từ trời cao nào đó, chỉ có sắt trong cát của Chúa mới là vàng!—Henry Ward Beecher (1813-1887), diễn giả, người theo chủ nghĩa bãi nô, người đưa ra chủ trương cải cách xã hội, tu sĩ người Mỹ.

Hãy suy nghĩ về điều hứng khởi, nói điều hào hứng, hành động một cách say mê, và bạn sẽ trở nên một người luôn hứng khởi. Cuộc sống sẽ khoác lên nó một sự thú vị sâu sắc hơn, một nhiệt huyết mới, và một ý nghĩa to lớn hơn. Bạn có thể nghĩ, nói và hành động buồn tẻ hoặc đơn điệu hoặc không hạnh phúc. Với chu trình tương tự, bạn có thể tạo nên sự hứng khởi, sự hào hứng và dấy lên tận đáy sâu của niềm vui.—Norman Vincent Peale (1898-1993), tác giả người Mỹ

From Jesus with love

Happiness as Constant as The Sun

Happiness of the spirit is far above happiness of the flesh, for happiness of the spirit is something that will always be there for you, even through the loneliest nights and the darkest times.

Happiness of the flesh is fleeting; it comes and goes with your circumstances and surroundings, with the things you see and feel and experience physically. But happiness of the spirit comes from knowing that I am your Savior and that I love and watch over you; those truths never change.

The happiness that I give is as constant as the sun. When the sun disappears beneath the horizon at night, do you worry that it’s gone forever? No, you realize that it is still there and only out of sight for a time. Night comes and you cannot see the sun, but you never doubt its existence or that it will rise the next morning. So it is with the happiness of the spirit; it is always and forever, like the sun.

When darkness settles on your spirit and you lose sight of happiness, that is the time to trust until morning, until you see and feel the sunshine of My love again. Never doubt. The dawn will come.

Chúa Giêsu với tình yêu

Niềm hạnh phúc vĩnh hằng như mặt trời

Niềm hạnh phúc nơi tinh thần vượt xa hẳn niềm hạnh phúc nơi thân xác, vì niềm hạnh phúc nơi tinh thần chính là điều luôn ở bên con, ngay cả trong những đêm cô đơn nhất và những thời khắc đen tối nhất.

Niềm hạnh phúc nơi thân xác chỉ là thoáng qua; nó đến và đi cùng với hoàn cảnh và những gì xung quanh con, với những gì con nhìn thấy, cảm nhận và trải nghiệm bằng thể lý. Nhưng niềm hạnh phúc nơi tinh thần đến từ việc biết rằng Ta chính là Đấng Cứu Độ con và rằng Ta yêu và trông nom con; những sự thật ấy không bao giờ thay đổi.

Niềm hạnh phúc mà Ta ban vĩnh hằng như mặt trời. Khi mặt trời lặn sau phía xa chân trời vào buổi đêm, con có lo lắng nó sẽ biến mất mãi mãi không? Không, con biết rằng nó vẫn ở đó và chỉ không thể nhìn thấy trong một lúc. Đêm đến và con không thể nhìn thấy mặt trời, nhưng con không bao giờ nghi ngờ sự tồn tại của nó hoặc liệu nó có mọc vào sáng hôm sau hay không. Niềm hạnh phúc nơi tinh thần cũng thế; nó luôn tồn tại và mãi mãi tồn tại, giống như mặt trời vậy.

Khi bóng tối bao trùm tinh thần của con, và con không nhìn thấy hạnh phúc, đó chính là lúc tin tưởng cho đến sáng mai, cho đến khi con nhìn thấy và cảm nhận trở lại ánh sáng tình yêu của Ta. Đừng bao giờ nghi ngờ. Bình minh sẽ đến.

Published by

James

I am a missionary of Jesus Christ serving God in Japan.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *