Easter – Phục sinh

Easter

Overcoming crises

Are you worried about your future and that of your loved ones? Does it feel like your world recently came crashing down around you? Do you feel helpless, depressed, isolated, or lonely?

If so, you’re not alone. Unfortunately, these are challenges that people all over the world are confronted with. And the gospels tell us that it’s similar uncertainty and apprehension that Jesus’ disciples faced shortly after His execution. In their case, the solution was realizing that the Master was still around and that they could continue depending on Him, just as they had done until then. It took awhile for them to understand it, but seeing the risen Christ put everything else into perspective and confirmed that He was powerful enough to provide all the help they could need.

The same is true for us today. Jesus didn’t promise that everything in our lives would go smoothly or that we wouldn’t face problems and opposition. But He did promise that He would never leave us (See Matthew 28:20; Hebrews 13:5.), and that He will always love us (See John 14:21). Our path may not be easy (See John 16:33), but we are not traveling it alone.

If we don’t let the trials and tough times overcome us, but instead use them to strengthen our connection with the one who can give us hope, joy, and peace (See Romans 15:13), we will come through our personal difficulties and crises stronger than ever, just as Jesus’ disciples did.

Vượt qua khủng hoảng

Bạn đang lo lắng về tương lai và những người bạn yêu thương ư? Có phải bạn gần đây bạn có cảm giác như thế giới xung quanh bạn đang sụp đổ không? Có phải bạn cảm thấy bất lực, tuyệt vọng, bị cô lập hoặc cô đơn không?

Nếu như thế, bạn không phải một mình. Thật không may mắn, những cảm xúc trên chính là những thách thức mà nhân loại khắp nơi trên thế giới đều gặp phải. Và tin mừng cho chúng ta biết rằng điều ấy cũng giống như sự e sợ và hoài nghi mà những môn đệ của Chúa Giêsu gặp phải không lâu sau khi Ngài bị kết án tử hình.

Trong trường hợp của họ, giải pháp chính là sự nhận ra rằng Thầy vẫn ở cùng họ và rằng họ vẫn có thể tiếp tục cậy dựa vào Ngài, cũng giống như những gì họ đã làm trước đó. Mất một khoảng thời gian để họ hiểu được điều ấy, nhưng khi nhìn thấy Đấng Cứu Thế sống lại, mọi việc được nhìn nhận đúng và họ đã công nhận rằng Ngài đủ quyền năng để ban tất cả những gì họ cần.

Với chúng ta ngày hôm nay cũng thế. Chúa Giêsu đã không hứa rằng mọi điều trong cuộc sống sẽ trôi chảy hoặc rằng chúng ta sẽ không đối mặt với những khó khăn và sự chống đối. Nhưng Ngài đã hứa Ngài không bao giờ rời khỏi chúng ta(xem Mt 28:20; Dt 13:5), và rằng Ngài sẽ luôn yêu thương chúng ta (Xem Ga 14:21). Con đường của chúng ta có thể không dễ dàng (Xem Ga 16:33), nhưng chúng ta không đi một mình.

Nếu chúng ta không để cho những gian nan và những lúc khó khăn vượt lên trên chúng ta, nhưng thay vào đó, dùng chúng để củng cố thêm sự liên kết giữa chúng ta với Đấng có thể ban cho chúng ta niềm hy vọng, niềm vui và bình an (Xem Rm 15:13), chúng ta sẽ vượt qua được những khủng hoảng và những khó khăn của riêng mình và trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, cũng giống như những môn đệ của Chúa Giêsu

TINY WORLDS

By Joyce Suttin

I remember learning about the word “microcosm” when I was in fifth grade. As homework, our teacher handed each of us a 36-inch string and told us to make a circle on the ground. Then we were to look at everything within the circle, study it, and see what lived in our tiny world.

From then on I was fascinated with little worlds. I spent hours sitting in the grass creating environments for ants and little bugs. I made chairs out of leaves and gowns out of petals. I made tiny roads and houses out of twigs. But mostly I just watched.

I took my string everywhere, and suddenly I saw the world with new eyes. Lawns, pebble-strewn pathways, rock ledges with carpets of moss—all I had to do was make a circle and I could create a new world. Well, not exactly “create,” but I could modify existing worlds and try to improve them.

Today I hear of tragedies in the news and weep over the headlines. I listen to political debates and wonder if people will ever agree, or if they are so absorbed in their arguments that they’ll never see the things they have in common.

I wish I could change the world. I wish I could make it a cleaner, more beautiful place. I wish I could end war and violence. I wish good will really could fill the earth. I was pondering this as I took my morning walk. Then I remembered the little girl in fifth grade, and I realized that while I cannot change the entire world, I can make my little world a better place. I cannot change everyone’s heart, but I can influence the person walking beside me.

I can create a microcosm of peace in a world of tempests. I can make my home a haven of calm in the midst of storms. I can take steps to make my surroundings more beautiful. God may not have given me a huge world to change, but I can change my tiny world by finding ways to fill it with God’s love each day.

Những thế giới bé nhỏ

Joyce Suttin

Tôi nhớ mình đã học về từ “thế giới vi mô” vào năm lớp 5. Như là bài tập về nhà, giáo viên đã cho mỗi chúng tôi một sợi dây khoảng gần 1 mét và bảo chúng tôi tạo thành một vòng tròn dưới nền nhà. Kế đến, chúng tôi phải nhìn mọi thứ trong vòng tròn, xem xét kỹ, và nhìn những gì sống trong thế giới bé nhỏ của chúng tôi

Kể từ đó, tôi cảm thấy hứng thứ với những thế giới nhỏ bé. Tôi ngồi trên bãi cỏ nhiều giờ để tạo môi trường cho kiến và những con sâu bọ nhỏ. Tôi làm những chiếc ghế từ những chiếc là và những chiếc áo choàng từ những cánh hoa. Tôi đã làm những con đường nhỏ và những ngôi nhà từ những cành cây nhỏ. Nhưng phần lớn là tôi chỉ nhìn.

Tôi mang sợi dây của mình đi khắp nơi, và bỗng chốc tôi nhìn thế giới bằng một cặp mắt mới. Con đường trải cỏ và rắc sỏi, những bờ tường đá với tấm thảm rêu. Tất cả những gì tôi phải làm là tạo thành một vòng tròn và tôi có thể tạo nên một thế giới mới. Cũng không hẵn là “tạo nên”, nhưng tôi có thể thay đổi những thế giới đang tồn tại và cố gắng cải thiện chúng.

Hôm nay, tôi nghe thấy những bi kịch từ tin tức và lướt qua những phần tóm tắt tin chính. Tôi nghe những cuộc tranh luận về chính trị và tự hỏi liệu mọi người có bao giờ đồng tình với nhau, hoặc liệu họ lún quá sâu vào những cuộc tranh luận đến nỗi không bao giờ nhìn thấy những điểm tương đồng giữa họ.

Tôi ước mình có thể thay đổi thế giới. Tôi ước mình có thể làm cho nó trở thành một nơi đẹp hơn và sạch hơn. Tôi ước mình có thể chấm dứt chiến trinh và bạo lực. Tôi ước thiện chí có thể phủ đầy mặt đất. Tôi suy nghĩ về những điều này trong khi đi bộ vào buổi sáng. Rồi tôi nhớ đến một cô bé nhỏ học lớp 5, và tôi chợt nhận ran gay cả khi tôi không thể thay đổi cả thế giới, tôi có thể làm cho thế giới bé nhỏ của tôi trở nên tốt hơn. Tôi không thể thay đổi con tim của tất cả mọi người, nhưng tôi có thể tác động đến người đang bước đi bên cạnh tôi.

Tôi có thể tạo ra một thế giới vi mô bình an trong một thế giới đầy bão giông. Tôi có thể làm cho ngôi nhà của tôi trở thành nơi trú ẩn an toàn giữa những cơn bão. Tôi có thể bước đi sao cho đẹp hơn. Chúa không trao cho tôi một thế giới to lớn để thay đổi, nhưng tôi có thể thay đổi thế giới bé nhỏ của tôi bằng việc tìm cách đong đầy thế giới ấy bằng tình yêu của Chúa mỗi một ngày.

SEEING JESUS

By Marie Story

In a series of experiments conducted a few years back, dogs were given the command “shake,” and they were normally happy to do so whether they got a reward or not. However, researchers found that if the dogs saw that another dog was being rewarded and they weren’t, they began hesitating to obey the command and eventually stopped cooperating altogether. The dogs knew when they were being treated unfairly, and they didn’t like it.1 If even dogs can understand when something isn’t fair, how much more will people know when they’re being treated unfairly!

Deuteronomy 25:13–14 warns us, “Do not have two differing weights in your bag—one heavy and one light. Do not have two differing measures in your house—one large, one small.”2 Very simply, God is saying, “Treat others fairly and don’t cheat.” However, I think there’s a broader application as well.

How often do we walk around with different weights in our bags? How often do we measure out great amounts of kindness to those we care about yet very little to those we have a more difficult time getting along with or don’t know as well? How often do we show partiality to some and indifference to others?

We offer a smile and a kind word to a friend but a cold shoulder to that annoying classmate.

We’ve got a ready helping hand for a buddy when he needs it, but our schedules are all booked up when the request comes from someone we don’t care about.

We’re happy to loan or even give money to a friend in need, but we try not to see the homeless person on the street corner.

While there are reasons why giving or helping or treating others equally isn’t possible in every situation, very often we’re simply falling prey to partiality. Instead of asking ourselves, “Why should I help this person?” or, “Why should I show kindness to this person?” we should be asking, “Why wouldn’t I?”

While it’s logical to assume that Jesus had a closer relationship with His disciples, for instance, than with some others, when we examine His life, we find that He treated everyone—from government officials to outcast lepers, from religious leaders to simple day laborers—with respect and consideration Even more impressive, His fairness and kindness extended even to those who treated Him poorly, those who abused and mocked Him, and even those who killed Him!

In my case, I find acting with impartiality difficult, because it means that I have to forget myself completely. It’s human nature to be constantly calculating and weighing things out in the recesses of our minds to see what returns we might get on each investment of self. We’re naturally more inclined to be partial to those who are likely to return the good will, the favor, or the kindness. If we’re unlikely to get anything out of it, it’s easy to walk away.

Mother Teresa is someone who didn’t make such calculations. Her giving was to the poorest of the poor—people who had nothing to offer her in exchange for all she did. She also interacted with celebrities and heads of state, and one thing I find stunning about her life is that she treated each one with the same respect and love. She didn’t reserve better treatment for those whom the world deemed more “important.”

One day she asked a visiting bishop, “Would you like to see Jesus?” Then she took him to see a man lying on a black pallet. The man was sick and gaunt, and his body was crawling with vermin.

Before the stunned bishop, Mother Teresa knelt down and wrapped her arms around the poor man. She held him close and said, “Here He is. Didn’t He say you’d find Him in the least person on earth?”3 Mother Teresa considered everyone to be equally deserving of love, because she saw Jesus in each one.

Jesus has told us that whatever we do (or fail to do) for even the “least of these,” we have done (or failed to do) to Him.4 It’s rare that we are called upon to love in such extreme physical conditions as Mother Teresa faced; more often we are faced with the unkindness of others, or our own prejudices or indifference. No matter what challenges we face, though, unconditional love should be our aim, so that when Jesus tells us, “What you did to others, you did to Me,” it’s something He’s happy about.

Nhìn Chúa Giê-su

Marie Story

Trong một loạt phim truyền hình về tập điều khiển được trình chiếu cách đây ít năm, những chú chó được ra lệnh “lắc”, và chúng làm theo rất giỏi cho dù có được quà hay không. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu nhận thấy rằng nếu những con chó nhìn thấy con chó khác có quà nà chúng không có, chúng ta bắt đầu chần chừ làm theo mệnh lệnh và cuối cùng là sẽ thôi không hợp tác nữa. Những con chó biết khi nào chúng bị đối xử không công bằng, và chúng không thích điều ấy. Nếu ngay cả loài chó có thể hiểu điều không công bằng, thì loại người càng hiểu thế nào khi họ bị đối xử bất công!

Đệ nhị luật 25:23-14 cảnh cáo chúng ta, “Anh em không được có trong bao bị của anh em hai quả cân khác nhau, một nặng một nhẹ; anh em không được có trong nhà của anh em hai thùng khác nhau, một lớn một nhỏ. Thiên Chúa nói một cách vô cùng đơn giản: “Hãy đối xửa với người khác công bằng và đừng lừa dối”. Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng có một sự ứng dụng rộng hơn.

Đã bao lần chúng ta bước đi với những quả cân khác nhau trong túi của mình? Đã bao lần chúng ta thiên vị với một số người và hờ hững với những người khác?

Chúng ta mỉm cười và nói một lời tử tế với một người bạn nhưng lại tỏ vẻ phớt lờ với một người bạn cùng lớp làm bạn bực dọc.

Chúng ta sẵn sang giúp đỡ một người bạn lúc cần, nhưng chúng ta cố để không nhìn thấy một người vô gia cư bên góc đường.

Trong khi có rất nhiều những lý do giải thích vì sao việc cho đi hoặc giúp đỡ hoặc đối xử với mọi người một cách công bằng là không thể trong mọi tình huống, chúng ta rất thường hay thiên vị. Thay vì hỏi bản thân: “Tại sao tôi giúp người này?” hoặc “tại sao tôi thể hiện sự tử tế với người này?”, chúng ta nên hỏi: “Tại sao lại không?”

Hoàn toàn hợp lý khi cho rằng Chúa Giêsu có mối quan hệ thân thiết hơn với những môn đệ của Ngài so với những người khác khi chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của Ngài, chúng ta nhận ra rằng Ngài đối xử với mọi người—từ những người có chức quyền đến những người phong hủi bên lề xã hội, từ những nhà lãnh đạo tô giáo cho đến những người lao động bình thường—bằng sự tôn trọng và quan tâm. Thậm chí còn xúc động hơn khi sự công bằng và tử tế của Ngài còn thể hiện cho những người đối xử tệ với Ngài, những người lăng mạ và chế giễu Ngài, và ngay cả những kẻ giết Ngài!

Trong trường hợp của tôi, tôi thấy việc hành động một cách không thiên vị quả là khó, bởi vì điều đó có nghĩa rằng tôi phải hoàn toàn quên đi bản thân mình. Bản chất tự nhiên của con người là luôn chần chừ cân đong sự việc với những gì chúng ta nhận lại cho mỗi khoảng đầu tư mà bản thân bỏ ra. Theo lẽ tự nhiên, chúng ta thường hay thiên vị đối với những ai đáp trả bằng ý tốt, sự quý mến hoặc sự tử tế. Nếu chúng ta không nhận được bất cứ gì từ ai đó, chúng ta dễ dàng bước qua họ.

Mẹ Teresa chính là người không làm phép tính toán. Mẹ cho những người nghèo nhất trong số những người nghèo—những người không có gì để trả lại tất cả những gì mẹ đã làm cho họ. Mẹ cũng có những mối giao lưu với những người nổi tiếng và những người đứng đầu quốc gia, và một điều tôi cảm thấy tuyệt vời về cuộc sống của mẹ chính là mẹ đối xử với mọi người bằng cùng một sự tôn trọng và tình yêu thương. Mẹ đã không dành sự đối xử tốt hơn cho những người thế giới xem là “quan trọng” hơn.

Một ngày nọ, mẹ đã hỏi một vị giám mục: “Ngài có muốn thấy Chúa Giêsu không?” Kế đến, mẹ dẫn vị giám mục đến gặp một người đàn ông đang nằm trên một tấm vải bố đen đúa. Người đàn ông đang bị bệnh và vẻ mặt hốc hác, và côn trùng bò trên người.

Trước mặt vị giám mục đang đứng sửng sốt, mẹ Teresa quỳ xuống và choàng tay ôm lấy người đàn ông đáng thương. Bà ôm lấy ông và nói: “Chúa Giêsu đây, Chẳng phải Ngài đã nói chúng ta sẽ tìm thấy Ngài nơi những người bé mọn nhất trong thế gian sao?” Mẹ Teresa xem tất cả mọi người đều xứng đáng với tình yêu, bởi vì mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu nơi từng người một.

Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng bất cứ điều gì chúng ta làm (hoặc không làm) cho những ai “bé mọn nhất”, chính là chúng ta đã làm (hoặc đã không làm) cho chính Ngài (Xem Mt 25:45). Rất hiếm khi chúng ta bị yêu cầu phải yêu thương trong một trường hợp khó như mẹ Teresa đã gặp; thường thì chúng ta đối mặt với sự thiếu tử tế của người khác hoặc với chính sự dửng dung và thành kiến của chính mình. Cho dù chúng ta đối mặt với thách thứ gì đi nữa, nhưng tình yêu vô điều kiện luôn là điều chúng ta hướng tới, như thế Chúa Giê-su sẽ nói với chúng ta “Những gì con đã làm cho người khác, chính là con đã làm cho chính Ta”, đó là điều Ngài vui lòng.

2100

By Chris Hunt

Two thousand one hundred! Not a date but a number. Bono, the lead singer of rock band U2, known for his anti-poverty campaigns, notes that this is how many mentions of poverty there are in the Scriptures: “That’s a lot of airtime.” In the introduction to the Poverty and Justice Bible, the Bible Society adds, “A concern for the poor and an emphasis on just and fair behaviour flows through the Bible like a river. It underpins the laws of the Old Testament and resounds through the words of the prophets; it forms a core part of all that Jesus said and did and shapes the activities of those who followed him.”

Blessed is he who considers the poor; the Lord will deliver him in time of trouble.—Psalm 41:1

The poor come to all of us in many forms. Let us be sure that we never turn our backs on them, wherever we may find them. For when we turn our backs on the poor, we turn [our backs] on Jesus Christ.—Mother Teresa (1910–1997)

Hearts and minds

Many of the world’s current problems of inequality and poverty have their origins in a loss of empathy. Author and psychologist Daniel Goleman observed, “When we focus on ourselves, our world contracts as our problems and preoccupations loom large. But when we focus on others, our world expands. Our own problems drift to the periphery of the mind and so seem smaller, and we increase our capacity for connection—or compassionate action.”

The good-hearted understand what it’s like to be poor; the hardhearted haven’t the faintest idea.—Proverbs 29:7 MSG

2100

Chris Hunt

Hai ngàn một trăm! KHông phải là năm nhưng là một con số. Bono, trưởng nhóm nhạc rock U2, nổi tiếng với chiến dịch chống nghèo đói đã chú giải rằng đây chính là con số mà sự nghèo đói được lặp lại trong Kinh Thánh: “Rất nhiều lần”. Trong lời giới thiệu cho quyển sách Sự nghèo đói và Sự công bằng trong Kinh Thánh, tổ chức Bible Study thêm vào: “Mối quan tâm dành cho người nghèo và sự nhấn mạnh đến hành vi công bằng và công chính chảy xuyên suốt Kinh Thánh như một dòng song. Đó chính là nền móng của luật trong Cựu Ước và được vang dội qua lời của những ngôn sứ; nó tạo nên một phần cốt lõi trong những gì Chúa Giê-su đã nói và đã làm và định hình nên những hoạt động của những ai theo Ngài”.

Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khổ; trong ngày hoạn nạn, sẽ được Chúa cứu nguy.—Thánh vịnh 41:1

Những người nghèo đến với tất cả chúng ta dưới rất nhiều hình thức. Chúng ta hãy chắc chắn rằng chúng ta không bao giờ quay lưng lại với họ cho dù chúng ta thấy họ ở bất cứ nơi nào. Vì khi chúng ta quay lưng lại với người nghèo, chính là chúng ta quay lưng lại với Chúa Giêsu.—Mẹ Teresa (1910-1997)

The justice connection

When the Bible talks about “the poor,” it’s not only referring to those who are destitute but also the downtrodden, oppressed, defenseless, and unrepresented. There is a clear connection in its pages between poverty and injustice, while justice is linked to honesty and fairness.

The Bible offers practical examples, such as giving a fair wage to employees and sharing part of our income.4 Jesus also suggested making friends with those who are less fortunate than ourselves.

Always be generous, open purse and hands, give to your neighbors in trouble.—Deuteronomy 15:11 MSG

See that justice is done, let mercy be your first concern.—Micah 6:8 CEV

The best index to a person’s character is how he treats people who can’t do him any good.
—Abigail Van Buren (1918–2013)

Con tim và tâm trí

Rất nhiều những vấn đề hiện tại của thế giới về bất công và nghèo đói bắt nguồn từ việc thiếu sự cảm thông. Nhà tâm lý học và văn học Daniel Goleman nhận xét: “Khi chúng ta chỉ chú ý đến bản thân mình, thế giới của chúng ta bị thu nhỏ lại vì những khó khăn và những mối bận tâm của chúng ta phóng ta lên. Nhưng khi chúng ta quan tâm đến người khác, thế giới của chúng ta được mở rộng. Những vấn đề của bản thân chúng ta thoát ra khỏi tâm trí của chúng ta và nhỏ lại, và chúng ta tang khả năng nối kết của mình—hay hành động cảm thông.”

Người công chính quan tâm đến quyền lợi kẻ nghèo, điều đó, ác nhân sao hiểu nổi!—Châm ngôn 29:7

What can I do?

Even with limited resources, there are always ways to make a difference. We can share our time, we can be fair and honest at work, we can speak up for those who have no voice of their own.

Break the chains of injustice, get rid of exploitation in the workplace, free the oppressed, cancel debts. What I’m interested in seeing you do is: sharing your food with the hungry, inviting the homeless poor into your homes, putting clothes on the shivering ill-clad, being available to your own families. … If you get rid of unfair practices, quit blaming victims, quit gossiping about other people’s sins, if you are generous with the hungry and start giving yourselves to the down-and-out, your lives will begin to glow.—Isaiah 58:6–7,9–10 MSG

Dear Lord,
Help us to follow your example,
by looking out for those who each day feel that they are marginalised,
who cannot find hope,
who believe that they have little to offer,
who are overcome by the challenges of poverty.
Help us to widen our horizons,
to make space for the stranger,
to watch out for those who feel invisible,
to give time to the outsider,
to talk to the person facing silence,
to restore justice and value.

Give us the courage to undertake this, the determination to join with others in seeing grace in every human face,
and the faith to embrace the opportunity.

—A prayer for justice from the Church Urban Fund (www.cuf.org.uk)

Christian hope … enables us to act humbly and patiently, tackling visible injustices in the world around us without needing to be assured that our skill and our effort will somehow rid the world of injustice altogether. Christian hope, after all, does not need to see what it hopes for (Hebrews 11:1). … Rather, it simply requires us to trust that even the most outwardly insignificant of faithful actions—the cup of cold water given to the child, the widow’s mite offered at the temple, the act of hospitality shown to the stranger, none of which has any overall strategic socio-political significance so far as we can now see—will nevertheless be made to contribute in some significant way to the construction of God’s kingdom by the action of God’s creative and sovereign grace.—Craig M. Gay

Mối liên kết công bằng

Khi Kinh Thánh nói về “người nghèo”, điều đó không chỉ đề cập đến những người nghèo túng nhưng còn những người bị chà đạp, bị áp bức, những người không có khả năng tự bảo vệ, những người không được ai nói thay. Có một mối liên kết rõ rang giữa nghèo đói và sự công bằng, sự công bằng gắn liền với sự thành thật và ngay thẳng. Kinh Thánh đã đưa ra những ví dụ điển hình, chẳng hạn như trả lương công bằng cho những người thợ (Xem Đệ nhị luật 24:24-15), và chia sẽ một phần thu nhập của chúng ta (Xem Lê vi 23:22). Chúa Giê-su cũng đã bảo chúng ta hãy kết bạn với những ai kém may mắn hơn chúng ta (Xem Lc 14:12-14).

Vì trong đất của anh em sẽ không thiếu người nghèo, nên tôi truyền cho anh em: hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh em, trong miền đất của anh em.

Thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn.—Mi-ca 6:8

Biểu thị tốt nhất nơi tính cách của một người chính là cách họ đối xử với những người không mang đến lợi ích gì cho họ.—Abigail Van Buren (1918-2013)

Tôi có thể làm gì?

Ngay cả khi những nguồn lực bị giới hạn, luôn có những cách để tạo nên sự khác biệt. Chúng ta có thể chia sẻ thời gian, chúng ta có thể ngay thẳng và thành thật nơi làm việc, chúng ta có thể bênh vực cho những ai yếu thế.

Hãy đập tan gong cùm của sự bất công, mở xiềng xích bạo tàn, tháo gong cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức. Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thi cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?… Nếu bạn loại khỏi nơi bạn ở gong cùm, cử chỉ đe dọa và lời nói hai người, nếu bạn nhường miếng ăn cho kẻ đói, làm thỏa lòng người bị hạ nhục, thì ánh sáng của bạn sẽ chiếu tỏa trong bóng tối, và tối tâm của bạn chẳng khác nào chính ngọ.—Is 58:6-7, 9-10

Lạy Chúa,

Xin giúp con biết noi gương Ngài,

Biết tìm kiếm những ai đang mỗi ngày cảm thấy rằng

Họ bị gạt sang một bên,

Những ai không thể tìm thấy niềm hy vọng,

Những ai cho rằng bản thân họ không có gì để cho đi,

Những ai đang bị vùi dập bởi những thách thức của sự nghèo đói.

Xin giúp chúng ta biết mở rộng tầm nhìn của mình,

Để có chỗ cho những người xa lạ,

Để biết được những ai cảm thấy mình chẳng là gì,

Để dành thời gian cho xung quanh,

Để nói chuyện với người đang đối mặt với sự tĩnh lặng,

Để phục hồi lại giá trị và sự công bằng

Xin ban cho chúng con can đảm để quyết tâm nối kết với người khác trong việc nhìn thấy ân sủng nơi khuôn mặt của từng mỗi người, và có được lòng tin để nắm bắt cơ hội.

Niềm hy vọng của người tín hữu…khiến chúng ta có thể hành động một cách khiêm tốn và kiên nhẫn, xóa bỏ những bất công rõ ràng nơi thế gian mà không cần biết chắc rằng những tài năng và cố gắng của chúng ta có thể xóa bỏ tất cả sự bất công. Nói cho cùng, niềm hy vọng của người tín hữu không nhất thiết phải nhìn thấy điều hy vọng (Dt 11:1)…Thay vào đó, niềm hy vọng tín hữu chỉ đơn thuần đòi hỏi chúng ta tin tưởng rằng ngay cả những hành động trung thành cho dù nhìn bề ngoài chẳng quan trọng gì—một ly nước lạnh trao cho một đứa trẻ, đồng tiền của bà góa trong đền thờ, hành động mến khách đối với người lạ mặt, những hành động ấy chẳng hề có tầm quan trọng chính trị xã hội mang tính chiến lược gì như chúng ta có thể thấy—tuy nhiên, những hành động ấy đóng góp một cách lớn lao trong việc xây dựng vương quốc của Chúa nhờ vào hành động sáng tạo và ân sủng cao vời của Chúa.—Craig M.Gay

The Water

Author unknown

It was the hot, dry season. With no rain in almost a month, crops were dying, cows had stopped giving milk, streams had long dried up, and we, like other farmers in the area, faced bankcruptcy if we didn’t see some rain soon.

I was in the kitchen making lunch when I saw my six-year-old son, Billy, walking purposefully and carefully toward the woods. I could only see his back. Minutes after he disappeared, he came running back.

I continued making sandwiches, but noticed later that he was once again walking toward the woods with that slow purposeful stride. This activity—walk carefully to the woods, run back to the house—was repeated a few more times. Finally I couldn’t take it any longer, so I crept out of the house and followed him on his journey, being careful to remain out of sight.

I sneaked along as he went into the woods. Branches and thorns slapped his face, but he didn’t try to avoid them. Then I saw the most amazing sight. Several large deer loomed in front of him, but Billy walked right up to them. I almost screamed for him to get away—a huge buck with elaborate antlers was dangerously close. But the buck did not threaten him. He didn’t even move as Billy knelt down. Then I saw a tiny fawn that was lying on the ground, obviously suffering from dehydration and heat exhaustion, lift its head with great effort to lap up the water my beautiful boy had brought, cupped in his hands.

When the water was gone, Billy jumped up to run back to the house and I hid behind a tree. I followed him back to a spigot that we had shut off the water to. Billy turned it all the way and knelt to catch the few drops that trickled out. I remembered the trouble he had gotten into for playing with the hose the week before and the lecture he had received about the importance of not wasting water, and I understood why he hadn’t asked for help.

The leftover water in the pipes was all but gone, and it took a long time for the drops to fill his makeshift “cup.” When he finally stood up and turned around, I was in front of him.

His eyes filled with tears. “I’m not wasting,” was all he said.

With a lump in my throat, I handed Billy a cup filled to the brim with water from the kitchen, and together we walked back into the treeline. I let him tend to the fawn, watching proudly as my son worked to save a life.

Tears rolled down my face and hit the ground, where they were joined by other drops … and more drops … and more. I looked up and saw the sky was dark and rumbly. Billy and I barely made it back to the house before the clouds burst and a heavy rain shower hit.

Some will probably say that this was just a huge coincidence, that it was bound to rain sometime. And I can’t argue with that. All I can say is that the rain that came that day saved our farm, just like the actions of a little boy saved a life.

Nước

Khuyết danh

Một mùa khô và nóng. Gần một tháng hầu như không có mưa, mùa màng chết, bò ngừng cho sữa, dòng suối khô cạn từ thượng nguồn, và chúng tôi, những người nông dân trong vùng, đối mặt với việc phá sản nếu mưa không đến sớm.

Tôi đang ở trong bếp chuẩn bị buổi cơm trưa, và nhìn thấy đứa con trai 6 tuổi, Billy bước tiến ra khu rừng. Tôi chỉ có thể nhìn thấy lưng thằng bé. Vài phút sau khi đi mất hút, nó chạy quay lại.

Tôi vẫn tiếp tục làm sandwich, nhưng vẫn quan sát biết thằng bé bước cẩn trọng vào rừng một lần nữa cũng với những bước dài chậm rãi có chủ đích. Hành động—bước chậm vào rừng, rồi chạy về nhà—lặp đi lặp lại vài lần. Cuối cùng, không chờ được nữa, tôi rón rén bước ra ngoài và lẻn đi theo thằng bé, thật cẩn thận để không bị phát hiện.

Tôi lén lút đi theo thằng bé vào rừng. Những cành cây và những bụi gai đập vào mặt, nhưng thẳng bé không có né. Và rồi, tôi nhìn thấy một khung cảnh kinh ngạc. Một vài con hươu to lù lù trước mặt thằng bé, nhưng Billy bước tiến về chúng. Tôi suýt thét lên để thằng bé tránh xa—một con hươu đực với cặp sừng phức tạp rất nguy hiểm khi lại gần. Nhưng con hưu đực đã không đe dọa Billy. Nó thậm chí không cử đọng khi Billy quỳ xuống. Rồi tôi nhìn thấy một con hươu nhỏ đang nằm trên mặt đất, rõ ràng là đang chịu đựng hạn hán và cái nóng khắc nghiệt, cố ngẫng cao đầu để táp lia lịa nước mà cậu con trai đáng yêu của tôi mang đến, nước được hứng trong tay.

Khi nước hết, Billy đứng phắc dậy và tạy về nhà, tôi vẫn đứng núp sau cái cây. Tôi đi theo sau cậu bé đến chiếc vòi nước đã khóa. Billy vặn hết ra và quỳ xuống để hứng vài giọt nước nhỏ giọt xuống. Tôi nhớ cậu bé đã bị la khi chơi với vòi nước vào tuần trước và đã được dạy về việc không được lãng phí nước, và tôi hiểu được tại sao cậu bé không nhờ giúp đỡ.

Những giọt nước còn đọng lại trong ống cũng đã không còn, và rất lâu những giọt nước mới hứng đầy “chiếc ly” tạm bợ. Khi cậu bé đứng lên và quay ra sau, tôi đứng ngay trước mặt cậu bé.

Cặp mắt của cậu bé rưng rưng: “Con không có lãng phí”, cậu bé nói.

Nghẹn nơi cổ họng, tôi đưa cho cậu bé một ly nước đầy lên tới miệng ly được lấy từ nhà bếp, và cả hai cùng bước vào rừng. Tôi để cho cậu bé chăm sóc con hươu con và tự hào nhìn đứa con trai của tôi đang cứu lấy một mạng sống.

Nước mắt lăn dài trên mặt tôi và rơi xuống đất, và rồi nước mắt cứ rơi…cứ rơi…Tôi ngước lên và nhìn thấy bầu trời chuyển đen và đang gầm gừ. Billy và tôi vừa kịp về đến nhà trước khi mưa to và nặng hạt.

Có lẽ ai đó cho rằng đây chỉ là một sự một sự trùng hợp, một lúc nào đó cũng phải mưa. Và tôi không tranh luận về điều này. Tất cả những gì tôi có thể nói chính là cơn mưa ấy cứu sống nông trại của chúng tôi, cũng giống như hành động của cậu trai nhỏ cứu sống một mạng sống.

INVESTING IN FOREVER

By Michael French

Giving up some of the things we enjoy or desire can seem like a sacrifice, but when we get to heaven and see things in proper perspective, we’ll be ashamed that we didn’t make those little sacrifices more cheerfully.

Even now I feel bad, remembering little jobs I weaseled out of, arguments I had to have the last word in, times I made sure to get the biggest piece of pie. I’m beginning to see how temporary those things were, and that the things that have really counted were the times I gave up some free time to help someone out, the times I let a mean comment pass without answering back, the times I helped someone save face, and the times I saved that biggest piece of pie for someone else. Giving up these inconsequential things doesn’t seem like such a sacrifice anymore, when I consider that I’m investing in forever.

Because I have been given much,
I, too, must give:
Because of Thy great bounty, Lord,
Each day I live
I shall divide my gifts from Thee
With every brother that I see
Who has the need of help from me.

Because I have been sheltered, fed,
By Thy good care,
I cannot see another’s lack
And I not share
My glowing fire, my loaf of bread,
My roof’s safe shelter overhead,
That he, too, may be comforted.

Because love has been lavished so
Upon me, Lord,
A wealth I know that was not meant
For me to hoard,
I shall give love to those in need,
Shall show that love by word and deed,
Thus shall my thanks be thanks indeed.

—Grace Noll Crowell (1877–1969)

Đầu tư cho sự vĩnh cửu

Michael French

Từ bỏ những gì chúng ta thích hoặc ao ước có thể xem là một sự hy sinh, nhưng khi chúng ta lên thiên đàng và nhìn mọi việc bằng một cách nhìn đúng đắn, chúng ta sẽ xấu hỗ vì mình đã không hy sinh một cách vui vẻ hơn.

Ngay cả lúc này, tôi vẫn cảm thấy khó chịu khi nhớ về những công việc nhỏ mà tôi lẫn tránh, những cuộc tranh luận mà tôi dành phần thắng, những lúc tôi dành cho bằng được phần lợi lớn nhất. Tôi bắt đầu nhận ra những việc ấy chỉ là nhất thời, và rằng những việc thật sự có ý nghĩa chính là những lúc tôi từ bỏ thời gian rãnh của mình để giúp đỡ ai đó, những lúc tôi phớt lờ không trả lời những ý kiến không đâu, những lúc tôi giúp ai đó giữ sỉ diện, và hững lúc tôi dành phần lợi lớn nhất cho ai đó. Từ bỏ những điều không quan trọng không còn có vẻ là sự hy sinh nữa khi tôi biết mình đang đầu tư cho sự vĩnh cửu.

Bởi vì tôi được ban cho rất nhiều,
Tôi cũng phải cho đi:
Bởi nhờ sự hào phóng vô cùn của Ngài, lạy Chúa,
Mỗi ngày con sống
Con sẽ chia sẻ những món quà từ Ngài
Với người anh em con gặp gỡ
Những người cần sự giúp đỡ từ con.

Bởi vì con được che chở và ban của ăn,
Nhờ và sự chăm sóc chu đáo của ngài,
Con không thấy mình thiếu gì
Và không thể không chia sẻ
Ngọn lửa nhiệt tình, và lương thực của mình
Mái nhà an toàn,
Để ai đó cũng có được sự thoải mái.
Bởi vì tình yêu chứa chan

Được nhận từ Ngài
Sự giàu có mà con biết không phải
Chỉ để con cất giữ,
Con sẽ cho đi tình yêu đến những ai cần,
Sẽ thể tình tình yêu bằng lời nói và hành động,
Để thật sự thể hiện sự biết ơn của mình.

—Grace Noll Corwell (1877-1969)

EASTER—YESTERDAY, TODAY, AND FOREVER!

By Peter Amsterdam, adapted

What did Jesus’ resurrection mean to His original disciples—all of those who believed in Him during His lifetime on earth? And what does it mean to us today?

By the time Jesus shared the Last Supper with His followers, just hours before He was arrested, tried, and killed, they had come to understand that Jesus was the Messiah (Savior) that the Old Testament prophets had foretold. Their understanding of this, however, was different from ours today.

The Jewish people in first-century Palestine believed and expected that God would send a Messiah, but according to their interpretation of Scripture, this was going to be an earthly king who would free Israel from oppression and domination by other nations, from which it had suffered for centuries. As they saw it, the kingdom to come was going to be an earthly one.

The disciples’ understanding of Jesus as the Messiah up until the time of His death was still based on this interpretation. They were expecting that Jesus would be the anointed king of physical Israel. This would have been the motivation behind the request of the brothers James and John to be allowed to sit on Jesus’ right and left hand once He came into power (See Mark 10:35–38,41). In other words, they wanted prominent positions when He would rule Israel. Even after His resurrection, they still asked Jesus when He was going to free Israel and restore the physical kingdom (See Acts 1:6).

Recent events had added to this anticipation. Seeing the large crowd of those who had come to Jerusalem for the Passover feast waving palm branches and hailing Jesus as king3 must have been exhilarating for the disciples! When pilgrims who didn’t know who He was or what was going on asked about it, the crowds who were following said, “This is the prophet Jesus.” (See John 12:13) Throughout His ministry, Jesus had healed multitudes of sick people, had fed thousands miraculously, had spoken God’s word with authority, and He had just recently raised His friend Lazarus from the dead. His popularity was at its cusp, and it seems a lot of people had high expectations that He was the awaited Messiah.

However, to all appearances, everything soon went wrong. Within days, Jesus was unfairly accused and savagely executed in the most degrading manner. The Messiah was expected to bring the pagans to justice, not to suffer unjustly at their hands.

You can imagine how devastating this shocking turn of events must have been for the disciples! The teacher they followed, their beloved Master, who they were sure was the Messiah, was dead. They were confused and discouraged, as seen in the account of two of them who were walking to the village of Emmaus on the day of the resurrection. The risen Jesus drew near and started walking with them. In the course of telling the story of what had happened, they said: “We had hoped He was the one who would redeem Israel.” Those hopes had seemingly been dashed, and they were deeply saddened by His death (See John 12:12–18; Matthew 21:6–11).

But then, the resurrection changed everything! God raised the so-called “failed” Messiah from the dead. There had been no Jewish expectation that the Messiah would be raised from the dead, so it wasn’t as if the disciples, or the Jewish people in general, were waiting to see whether Jesus would fulfill some prophecy in that respect.

A short time before this, the chief priests had come to the conclusion that Jesus must die, saying, “If we let Him go on like this, everyone will believe in Him, and the Romans will come and take away both our place and our nation.” (See Luke 24:17–21)

During Jesus’ trial, the high priest asked Him if he was the Christ, and upon hearing Jesus’ affirmative answer, which included quotations from the book of Daniel about the Son of Man sitting at the right hand of God, the high priest and those with him accused Him of blasphemy, which by their law was punishable by death (John 11:48 ESV).

Pontius Pilate, the Roman prefect, condemned Jesus to death on the basis of His claim of being a king. It seems Pilate didn’t genuinely consider Jesus a threat, but due to the insistence of the crowd and the Jewish authorities, he chose to have Him crucified under Roman anti-sedition laws (See Matthew 26:63–66). The plaque that Pilate hung on the cross said, “This is Jesus, the King of the Jews.” (See John 19:12)

Jesus was executed because the Jewish leaders rejected Him as the Messiah, and because the Romans said no unauthorized king could live. Yet the extraordinary and unexpected event of His resurrection reversed the verdicts of both the Jewish and Roman courts.

Despite Rome’s law that would-be kings must die, and the Jewish leaders’ belief that Jesus was not the Messiah, God Himself overturned their judgments, validating Jesus as both King and Messiah by raising Him from the dead.

This, in turn, validated all that Jesus had taught about His Father, the kingdom of God, and salvation. The resurrection, which proved that Jesus was, in fact, the Messiah, coupled with the coming of the Holy Spirit, established a new understanding about God. The significance of the resurrection in Jesus’ day was that it validated that Jesus was who He said He was.

Before the resurrection, the disciples hadn’t fully understood the things Jesus had told them about His death and resurrection. However, after He rose, during the 40 days before He ascended into heaven, He explained the Scriptures to them and they then understood (Matthew 27:37).

The realization that through Jesus’ incarnation, death, and resurrection, salvation was available to all was the reason the apostles preached about the resurrected Christ throughout the book of Acts. It’s why the New Testament writers stated that the resurrection proved Jesus was the Son of God.

Fifty days after the resurrection, after Jesus had ascended, the Holy Spirit also entered the world in a new way by dwelling within believers. These events motivated the disciples and the early church to spread the news throughout the world of their day that through Jesus and His sacrifice on the cross, humanity could become reconciled with God.

For the disciples then, and for us now, Easter is the bedrock of Christian faith and hope. The early disciples, while initially faced with crushed hopes due to their expectations, soon came to see that because Jesus arose, what He had done, said, and promised was true. That carries down through history to us today. The risen Christ gave proof of His divinity and trustworthiness by dying for our sins and then rising from the dead.

Because of what He did, we know that all He said is true: that we have salvation and eternal life, that the Holy Spirit dwells within us, that we have the promise of answered prayer, that He will guide us when we ask Him to. The separation between us and God has been bridged. We are His children, who will live with Him forever.

Because of the resurrection, we have the assurance of salvation, the ability to lead a Christ-infused life today, and the honor to live with God forever.

Let’s rejoice in the significance of Easter—yesterday, today, and forever. Happy Easter!

Phục sinh—Hôm qua, hôm nay, và mãi mãi!

Phỏng theo bài viết của Peter Amsterdam

Sự sống lại của Chúa Giêsu có ý nghĩa như thế vào đối với những môn đệ đầu tiên của Ngài—tất cả những ai tin vào Ngài trong suốt quãng đời nơi trần thế của Ngài?

Cho đến khi Chúa Giêsu ăn mừng Lễ Vượt Qua cùng với những môn đệ của Ngài, chỉ vài giờ trước khi Ngài bị bắt, bị kết án, và giết chết, các môn đệ của Ngài hiểu được rằng Chúa Giêsu chính là Đấng Messiah (Đấng Cứu Thế) mà những tiên tri trong Cựu Ước đã nói đến. Tuy nhiên, sự hiểu biết của họ về sự sống lại khác với sự hiểu biết của chúng ta ngày hôm nay.

Những người Do Thái ở Palestine thế kỷ thứ nhất tin và trông chờ Đức Chúa sẽ gửi Đấng Messiah đến, nhưng theo sự lý giải Kinh Thánh của họ, điều này có nghĩa là một vị vua nơi trần thế sẽ giải phóng Israel khỏi sự áp bức và thống trị của những quốc gia khác mà họ đã phải chịu đựng suốt nhiều thế kỷ. Theo như họ biết, vương quốc sẽ đến chính là vương quốc nơi trần thế.

Sự hiểu biết của những môn đệ về việc Chúa Giêsu chính là Đấng Messiah cho đến cái lúc Ngài chịu chết cũng chỉ dựa vào lời giải thích này. Họ trông đợi Chúa Giêsu sẽ trở thành vua của Israel. Đây chính là ý nghĩa phía sau lời thỉnh cầu của anh em Giacôbê và Gioan (con ông Giêbêđê) xin được ngồi bên tả và bên hữu của Chúa Giêsu một khi Ngài nắm quyền (Xem Mc 10:35-38, 41). Nói cách khác, họ muốn có được vị trí nổi bật khi Ngài cai trị Israel. Ngay cả sau khi Chúa Giêsu sống lại, họ vẫn hỏi đến lúc nào Ngài sẽ giải phóng Israel và khôi phục lại vương quốc nơi thế gian (Xem Cv 1:6).

Những sự kiện xảy ra gần đó càng làm tăng thêm sự mong đợi của họ. Việc nhìn thấy đám đông đến Giêsuralem mừng Lễ Vượt Qua cầm nhành lá vẫy và tung hô Chúa Giêsu như vị vua chắc chắn làm cho những môn đệ của Ngài rất phấn khởi! Khi những người hành hương, những người không biết Ngài là ai hoặc điều gì đang xảy ra hỏi về điều này, đám đông trả lời: “Đây chính là ngôn sứ Giê-su” (Xem Ga 12:12-18; Mt 21:6-11). Trong suốt thời gian thi hành sứ mệnh của mình, Chúa Giêsu đã chữa lành cho những người đau bệnh, cho hàng ngàn người ăn một cách kỳ diệu, đã rao giảng lời Chúa bằng một sự uy quyền, và Ngài chỉ vừa mới mang bạn của Ngài, Lazarus trở về từ cõi chết. Sự nổi tiếng của Ngài đang ở mức tột đỉnh, và dường như rất nhiều Người đặt trông mong rất cào nơi việc Ngài chính là Đấng Messiah đang được chờ đợi.

Tuy nhiên, trước tất cả những sự việc xảy ra, mọi việc chẳng mấy chốc trở nên tồi tệ. Chỉ trong vòng vài ngày, Chúa Giêsu đã bị kết án oan, và bị giết cách tàn nhẫn dưới bản án hèn hạ nhất. Đấng Messiah được trông đợi trừng trị những kẻ thờ tà thần, chứ không phải chịu bạo hành bất công dưới bàn tay của họ.

Bạn có thể tưởng tượng cú sốc này nặng nề như thế nào đối với các môn đệ! Người thầy mà họ theo, Người Thầy dấu yêu mà họ chắc chắn là Đấng Messiah, đã chết. Họ hoang mang và thất vọng, điều này được nhìn thấy rõ trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau vào ngày Chúa sống lại. Chúa Giêsu Phục Sinh đến gần và bước đi cùng họ. Trong lúc kể về những gì đã xảy ra, họ đã nói: ““Chúng tôi đã hy vọng Ngài sẽ là Đấng cứu Israel”. Những niềm hy vọng của họ đã bị tiêu tan, và họ vô cùng đau buồn trước cái chết của Ngài (Xem Lc 24:17-21).

Nhưng sau đó, sự sống lại của Chúa Giêsu đã thay đổi tất cả! Đức Chúa đã cho Đấng bị xem là Messiah “thất bại” sống lại từ cỏi chết. Không một người Do Thái nào nghĩ rằng Đấng Messiah sẽ sống lại từ cõi chết, những môn đệ hoặc những người Do Thái nói chung không bao giờ nghĩ Chúa Giê-su sẽ hoàn thành lời hứa trong Sách Thánh theo cách ấy.

Trước đó không lâu, những thượng tế đã quyết định Chúa Giêsu phải chết: “Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-a sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Xem Ga 11:48)

Trong suốt thời gian xét xử Chúa Giêsu, vị thượng tế hỏi liệu Chúa Giêsu có phải là Đấng Cứu Thế, và sau câu trả lời khẳng định của Chúa Giêsu, câu trả lời bao gồm lời được viết trong Sách Danel về con Thiên Chúa sẽ ngồi bên hữu Thiên Chúa, vị thượng tế và những người cùng phe với ông kết tội Ngài là phạm thượng, và theo luật của họ, tội này phải tử hình (Mt 26:63-66).

Phongxio Philato, người đại diện Rô-a, đưa ra bản án tử hình Chúa Giê-su về tội tự xưng mình là vua. Có vẻ như Philato không thật sự xem Đức Giê-u là mối đe dọa, nhưng do sự kiên quyết của đám đông dân chúng và của những thế lực Do Thái, ông chọn cách đóng đinh Ngài, theo luật định tội chống lại Rô-a. Tấm bảng mà Philato troe trên thập giá viết: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái” (Xem Mt 27:37).

Chúa Giêsu bị xử tử hình bởi vì những người đứng đầu Do Thái không thừa nhận Ngài là Đấng Messiah, và bởi gì Rôma nói rằng không một vị vua nào không được trao quyền có thể sống. Tuy nhiên, biến cố lạ thường và không mong đợi về việc Chúa Giêsu sống lại đã làm đảo ngược bản án của người Do Thái và Rôma.

Mặc cho theo luật của Rô-ma, những ai muốn làm vua sẽ phải chết, và theo những gì những người đứng đầu Do Thái tin rằng Chúa Giêsu không phải là Đấng Messiah, chính Thiên Chúa đã lật đổ sự phán quyết của họ, phê chuẩn cho Chúa Giêsu là Vua và là Đấng Messiah bằng cách làm cho Ngài sống lại từ cõi chết.

Điều này cũng làm cho những gì Chúa Giêsu giảng dạy về Cha Ngài, về vương quốc của Đức Chúa và ơn cứu độ trở nên hữu hiệu. Sự sống lại chứng thực rằng Chúa Giêsu đích thực là Đấng Messiah, cùng với sự ngự xuống của Chúa Thánh Thần, đã tạo nên một sự hiểu biết mới về Đức Chúa. Tầm quan trọng của sự sống lại vào thời Chúa Giêsu chính là sự mih chứng cho những gì Chúa Giê-su nói về Ngài và Ngài là ai.

Trước lúc sống lại, các môn đệ chưa hiểu hết những gì Chúa Giêsu đã nói với họ về cái chết và sự sống lại của Ngài. Tuy nhiên, sau khi Ngài trỗi dậy, suốt 40 ngày trước khi Ngài lên Trời, Ngài đã giải thích những lời Kinh Thánh cho họ hiểu (Xem Cv 1:3; Lc 24:27, 32).

Sự nhận biết rằng thông qua việc mặc lấy xác phàm, cái chết và sự sống lại của Chúa Giê-su, ơn cứu độ trở nên được dành cho tất cả, đó cũng chính là nguyên nhân các môn đệ loan truyền về Đức Giêsu Phục Sinh trong suốt sách Công Vụ Tông Đồ. Đó là lý do tại sao những tác giả sách Tân Ước công bố rằng sự Phục Sinh minh chứng Chúa Giêsu chính là Con Thiên Chúa.

Năm mươi ngày sau khi sống lại, sau khi Chúa Giêsu về trời, Chúa Thánh Thần cũng đến trong thế gian theo một cách thức mới, chính là ngự trị trong lòng mỗi tín hữu. Những sự kiện này đã thôi thúc các môn đệ và giáo hội sơ khai loan tin cho khắp thế giới vào thời của họ rằng nhớ Chúa Giêsu và cái chết của Ngài trên thập giá, nhân loại có thể giao hòa với Thiên Chúa.

Đối với các môn đệ năm xưa, và đối với chúng ta ngày hôm nay, Phục Sinh chính là nền tảng của niềm tin và niềm hy vọng Ki-tô hữu. Những môn dệ tiên khởi, dù lúc đầu đã phải đối mặt với những niềm hy vọng bị tan vỡ bởi những sự trông đợi của họ, nhưng không lâu sau đã được nhìn thấy rằng bởi vì Chúa Giêsu đã sống lại, nên những gì Ngài đã nói, đã làm và đã hứa, đều là sự thật. Sự thật ấy trường tồn xuyên suốt lịch sử cho đến thời đại của chúng ta ngày nay. Đấng Cứu Thế sống lại đã minh chứng bản tính thần thiêng và sự minh chứng rằng chúng ta có thể tin tưởng nơi Ngài, bởi vì Ngài đã chết cho tội lỗi của chúng ta và đã sống lại từ cõi chết.

Bởi vì những gì Ngài đã làm, chúng ta biết rằng tất cả những gì Ngài đã nói đều là sự thật: rằng chúng ta có được ơn cứu độ và ơn cứu độ, rằng Thánh Thần ngự trị trong tâm hồn chúng ta, rằng chúng ta được hứa sẽ được đáp trả những lời nguyện xin, rằng Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta khi chúng ta cầu xin Ngài. Sự chia cách giữa chúng ta và Thiên Chúa đã được nối kết lại. Chúng ta là con cái của Ngài, chúng ta sẽ được sống cùng Ngài mãi mãi.

Bởi vì sự Phục Sinh, chúng ta có được đảm bảo có được ơn cứu độ, có được khả năng để sống một cuộc sống tràn đầy Đấng Cứu Thế, và niềm vinh dự được sống cùng Chúa mãi mãi.

Hãy hân hoan trong sự quan trọng tột cùng của Phục Sinh—hôm qua, hôm nay, và mãi mãi. Chúc mừng Lễ Phục Sinh tràn đầy hồng ân!

THE KINDNESS OF STANGERS

By Katrin Prentice

About a year ago, I sprained my ankle quite badly coming out of the movie theater and needed to go to the hospital for an x-ray and to have it properly bandaged. Thankfully, nothing was broken, but the swelling lasted a few days, and it was some time before I could walk normally.

Later, when I was reflecting on this unexpected mishap, the main thing that struck me from all that had happened was the kindness of strangers. Here is what I mean:

When I first tumbled down the stairs, the pain was excruciating. I was also scared and in shock. Right away, a man appeared—a complete stranger, at the right time and place—and helped my husband, Brian, pick me up and carry me to the car, all the while talking to me and comforting me in a very soothing voice. When we got to the car, he left, just as suddenly as he had appeared.

Then, as we were discussing the route to the emergency hospital, a young couple, whom we had never met before, approached our vehicle and offered to lead the way. Once we reached the hospital, they stayed until I was done with my x-ray, in case we needed their help for anything, especially considering my husband isn’t fluent yet in the local language. Mind you, it was past midnight, and they were strangers to us, but it was comforting to have them around and to talk with them while waiting.

Then another thought started forming in my mind as the timing of it all became rather significant to me. This incident took place on the eve of the Easter weekend. And thinking on the “kindness of strangers” that we experienced, I couldn’t help but see the similarity to what Jesus did for humanity on this day so long ago. Only in His case, He didn’t just carry an injured person to a hospital, or even stay on to make sure she was okay—this Stranger went all the way, by giving His life for people who didn’t even know Him.

And then I recognized Him in the strong arms of the kind man who helped my husband carry me, and in the reassuring smiles of Martin and Anastasia who stayed with us into the night to make sure I was all right. He lives on in each loving deed.

Sự tử tế của những người lạ mặt

Katrin Prentice

Cách đây một năm, tôi bị bong gân mắt cá chân khá nặng khi bước ra khỏi rạp chiếu phim và phải vào viện để chụp x-quang và bang bó. May thay, xương không bị gãy, nhưng chỗ sung kéo dài vài ngày, và cần ít thời gian để đi lại bình thường.

Sau đó, khi ngẫm nghĩ lại rủi ro bất ngờ này, điều khiến tôi ấn tượng nhất chính là sự tử tế của những người lạ mặt. Dưới đây là điều tôi muốn nói:

Khi mới ngã xuống cầu thang, vết thương rất đau. Tôi cũng cảm thấy sốc và sợ hãi. Ngay lập tức, một người đàn ông xuất hiện—một người hoàn toàn lạ mặt, ngay đúng lúc—và giúp chồng của tôi, Brian, đỡ tôi dậy và khiêng tôi ra xe, cả đoạn đường nói chuyện với tôi và an ủi tôi bằng giọng nói thật nhẹ nhàng. Khi ra đến xe, anh ta rời khỏi, cũng giống như lúc anh ta bỗng nhiên xuất hiện.

Sau đó, khi đang bàn luận đường đến khoa cấp cứu bệnh viện, một cặp vợ chồng trẻ chúng tôi chưa bao giờ gặp, đến bên xe và nói sẽ dẫn đường. Khi đến bệnh viện, họ ở lại chờ cho đến khi tôi chụp xong x-quang, trong trường hợp chúng tôi cần giúp đỡ. Nói rõ cho bạn biết, lúc đó đã quá nữa đêm, và họ hoàn toàn là người lạ, nhưng cảm thấy thật an ủi khi có họ ở cùng và trò chuyện với họ trong lúc chờ đợi.

Rồi một suy nghĩ khác bắt đầu xuất hiện trong đầu của tôi khi thời gian sự việc xảy ra trở nên khá quan trọng đối với tôi. Sự cố xảy ra trước tuần lễ Phục Sinh. Và nghĩ về “những người lạ mặt tử tế” mà chúng tôi được gặp, tôi cảm thấy giống như những gì Chúa Giêsu đã làm cho nhân loại cách đây rất xa xưa. Chỉ trong trường hợp của Ngài, Ngài đã không khiêng bệnh nhân đến bệnh viện, hoặc ngay ả không ở cùng để chắc chắn là người bệnh không sao—Người lạ mặt này đã đi hết cả đoạn đường, bằng cách cho đi cả mạng sống mình cho những người không hề biết Ngài.

Và rồi tôi nhận ra Ngài nơi đôi tay mạnh mẽ của người đàn ông tử tế đã giúp chồng tôi đỡ tôi, và nơi nụ cười làm tôi yên long của Martin và Anastiasia, đôi bạn đã ở cùng chúng t6i giữa đêm để bảo đảm là tôi không có chuyện gì. Ngài vẫn sống trong mỗi hành động yêu thương.

Debt Free

By Mário Sant’Ana

Sérgio was going through a severe financial crisis. He had taken out a large loan in a foreign currency, but a wild fluctuation in the exchange rate had raised his debt to more than double the value of everything he possessed.

Sérgio’s main creditor was his father-in-law, a very wealthy man. One day he told Sérgio, “I know you’re going through rough times, and I want to help you. You don’t have to continue the monthly payments on the money you borrowed from me. Actually, I’d like to forgive the debt altogether.”

That would have given Sérgio enough financial leeway to renegotiate his other debts and keep his company afloat, but Sérgio refused the offer.

“I can’t let you do that, sir. It’s a matter of principle. I must pay back all I owe you.”

The old man tried to reason with his son-in-law.

“What you’ve been paying monthly doesn’t even cover the interest on the money I loaned you. Besides, you are married to my only daughter. When I die—and it won’t be long—all I have will be hers and yours. This is not a matter of principle, but stupid pride.”

However, Sérgio stubbornly continued in his futile attempts to restore to his father-in-law what he had borrowed from him. In the end, Sérgio went bankrupt and lost his company and almost everything else.

Of course, we should do what we can to pay our debts. But Sérgio was like many people who refuse the pardon God so generously offers, who insist on trying to make restitution themselves. They try, through good works, sacrifice, and self-denial, to repay the unrepayable, when they could start writing a new story for their lives by accepting Jesus’ payment for their mistakes.

Jesus offers a full pardon to every man, woman, and child. All we have to do is accept it.

Receive God’s free pardon by simply asking and inviting His Son, Jesus, into your life:

“Thank You, dear Jesus, for dying for me and forgiving me. I open my heart to You and accept Your gift.”

He paid a debt He did not owe;
I owed a debt I could not pay;
I needed someone to wash my sins away.
Christ Jesus paid a debt that I could never pay.

—Ellis J. Crum

Không mắc nợ

Maria SantAna

Sergio đã trải qua cơn khủng hoảng về tài chính nghiêm trọng. Anh ấy đã mượn một món nợ lớn bằng ngoại tệ, nhưng dao động mạnh của tỷ giá đã làm tang món nợ lên gấp đôi giá trị của tất cả tài sản của anh ta.

Chủ nợ chính của Sergio chính là bố vợ của anh ta, một người rất giàu có. Một ngày nọ, ông đã nói với Sergio: “Bố biết con đang trải qua thời điểm rất khó khăn, và bố muốn giúp đỡ con. Con không cần phải tiếp tục hàng tháng trả món nợ con đã mượn bố. Thật ra là bố muốn xóa hết nợ cho con.”

Điều ấy sẽ giúp cho Sergio gia hạn được về tài chính để thương lượng lại với những chủ nợ khác và giúp công ty thoát nợ, nhưng Sergio đã từ chối sự giúp đỡ.

“Con không thể để bố làm thế. Đó là vấn đề thuộc về nguyên tắc. Con phải trả lại tất cả những gì con đã nợ bố”.

Người đàn ông cố gắng thuyết phục người con rễ.

“Những gì con trả cho bố hàng tháng thậm chí không đủ trả lãi cho món tiền mà bố cho con mượn. Bên cạnh đó, con kết hôn với đứa con gái duy nhất của bố. Khi bố mất—và điều này không còn lâu—tất cả những gì bố có sẽ là của con gái và là của con. Đây không phải vấn đề thuộc về nguyên tắc, nhưng chính là sự kiêu hãnh ngu xuẩn”.

Tuy nhiên, Sergio tiếp tục bướng bỉnh trong việc cố gắng vô ích để trả lại những gì anh ta đã mượn bố vợ của mình. Đến cuối cùng, Sergio bị phá sản, mất công ty và hầu hết tất mọi thứ khác.

Lẽ dĩ nhiên, chúng ta nên làm những gì có thể để trả những khoản nợ. Nhưng Sergio giống như rất nhiều người từ chối ơn tha thứ Chúa rộng ban, những người kiên quyết tự hoàn lại.

Chúa Giêsu ban ơn tha thứ cho mọi người nam, nữ và trẻ con. Tất cả những gì chúng ta phải làm là đón nhận.

Đón nhận ơn tha thứ nhân không của Chúa bằng cách đơn giản cầu xin và mời Con Một của Ngài, Chúa Giêsu vào trong cuộc sống của bạn:

“Lạy Chúa Giê-su, tạ ơn Ngài đã chết vì con và tha thứ cho con. Con xin mở rộng tâm hồn của con để đón nhận Ngài và món quà của Ngài,”

Ngài đã trả món nợ mà Ngài không mượn;
Tôi nợ món nợ không thể trả;
Tôi cần ai đó rữa sạch mọi tội lỗi của mình.
Chúa Giê-su Cứu Thế đã trả món nợ tôi không bao giờ có thể trả.

—Ellis J.Crum

QUIET MOMENTS

By Abi May

Easter Praise

Picture a tiny, hard seed trapped in darkness. Rain falls, the sun shines, and within that seed, cells are multiplying. Soon there’s a green shoot of life. A new plant is growing.

Now picture a baby bird trapped in a hard, unwelcoming shell. A crack appears as the little creature pecks and scratches. Out comes a yellow chick, bright and fluffy.

These are just a few manifestations of new life that we witness, season after season, year after year.

While we expect new life to blossom, we don’t expect something that is dead to come back to life. A dead bird will not fly again. Yet the Bible tells us there were many witnesses to Jesus’ resurrection:

“Christ died for our sins, just as the Scriptures said. He was buried, and he was raised from the dead on the third day, just as the Scriptures said. He was seen by Peter and then by the Twelve. After that, he was seen by more than 500 of his followers at one time.”1

We stand amazed, just like those early witnesses. How could a lifeless, broken body, lying in the cold and dark of the tomb, spring to life? The miracle of Christ’s resurrection, flouting the natural order, is truly beyond our human comprehension.

Yet the miracle doesn’t end there. As C. S. Lewis (1898–1963) wrote, “Jesus has forced open a door that had been locked since the death of the first man. He has met, fought, and beaten the King of Death. Everything is different because he has done so.”

What a God we have! And how fortunate we are to have him! … Because Jesus was raised from the dead, we’ve been given a brand-new life and have everything to live for, including a future in heaven—and the future starts now!—1 Peter 1:3–4 MSG

I am the living one! I was dead, but now I am alive forever and ever.—Jesus, Revelation 1:18 GNT

The best news the world ever had came from a graveyard.—Author unknown

Now the iron bars are broken,
Christ from death to life is born,
Glorious life, and life immortal
On this holy Easter morn:
Christ has triumphed, and we conquer
By His mighty enterprise,
We with Him to life eternal
By His resurrection rise.

—Christopher Wordsworth
(1807–1885) ■

24. 1 Corinthians 15:3–6 NLT

From Jesus with Love

Những thoáng suy ngẫm

Abi May

Lời chúc tụng Phục Sinh

Hãy tưởng tượng một hạt giống nhỏ, bị nhốt trong tối tăm. Mưa rơi, ánh nắng mặt trời chiếu, và bên trong hạt giống ấy, những tế bào sinh sôi. Chẳng bao lâu sau, mầm xanh sự sống đâm lên. Một cây mới đang lớn lên.

Giờ đây, hãy tưởng tượng một chú chim non bị nhốt trong lớp vỏ cứng khó chịu. Một vết nứt xuất hiện khi một tạo vật nhỏ mổ và bới. Ló ra ngoài là một chú gà con vàng, rạng rỡ, phủ lông tơ.

Đó chỉ là một vài minh họa về sự sống mới mà chúng ta chứng kiến, mùa này qua mùa khác, năm này qua năm khác.

Khi chúng ta trông chờ một sự sống mới trổ sinh, chúng ta không mong đợi điều gì đó đã chết sống lại. Một con chim chết không bay trở lại. Tuy nhiên, Kinh Thánh nói với chúng ta rất nhiều những bằng chứng về sự sống lại của Chúa Giê-su:

“Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai tang, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy, phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ” (1Cr 15:3-6).

Chúng ta cũng ngạc nhiên giống như những nhân chứng đầu tiên ấy. Làm sao một thân xác đã chết, nằm trong ngôi mồ tối lạnh lẽo, có thể sống lại? Phép lạ sự sống lại của Đấng Cứu Thế, một sự chế giễu đối với lẽ thường tình, thực sự vượt xa sự hiểu biết của con người.

Tuy nhiên, phép lạ không chỉ chấm dứt ở đây. C.S. Lewis (1898-1963) đã viết: “Đức Giêsu đã mở cánh cửa đã bị khóa kể từ khi cái chết của nhân loại đầu tiên. Ngài đã gặp, đã chiến đấu và đánh bại thần chế. Mọi thứ trở nên khác bởi vì những gì Ngài đã làm.”

Chúng ta có một Thiên Chúa thật tuyệt vời! Và chúng ta may mắn thế nào khi có Ngài!…Nhờ Đức Giêsu Cứu Thế đã từ cõi chết sống lại, chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động bao gồm cả một tương lai nơi thiên đàng—và một tương lai bắt đầu từ ngay lúc này!—1Pr 1:3-4

Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muốn thuở muôn đời, và Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ.—Chúa Giêsu, Khải huyền 1:18

Tin tốt nhất thế giới từng được nghe đến từ ngôi mộ.—Khuyết danh

Giờ đây, những thanh sắt đã bị bẽ gãy,
Đấng Cứu Thế từ cõi chết sống lại,
Sự sống vẻ vang, và bất diệt
Vào buổi sáng Phục Sinh thần thiêng:
Đấng Cứu Thế đã chiến thắng, và chúng ta chiến thắng
Bởi sức mạnh của Ngài
Chúng ta được sống mãi mãi cùng Ngài

Nhờ sự Phục Sinh của Ngài.—Christopher Wordsworth (1807-1885)

Prince of Peace

Once, when I was crossing the Sea of Galilee with My disciples, a storm arose and threatened to sink our small boat. My disciples were frightened, but I commanded the storm to cease—“Peace! Be still!”—and the wind and waves obeyed Me (See Mark 4:35–39). One day, I will cause the storms of this world to cease, and dry the eyes of the downtrodden and those who have been cruelly tormented.

In the meantime, you can have real and lasting peace in your heart—peace that can withstand anything—by receiving Me as your Savior and turning to Me in your time of need. “Here on earth you will have many trials and sorrows. But take heart, because I have overcome the world.” (John 16:33 ) I will always be there for you.

Chúa Giê-su với tình yêu

Vị Hoàng Tử Bình An

Thuở xưa, khi Ta bang qua Bờ Biển Galile cùng với những môn đệ của Ta, một cơn bão nỗi lên và đe dọa chiếc thuyền nhỏ của Ta có thể bị chìm. Những môn đệ của Ta đã rất hoảng sợ, nhưng Ta ra lệnh cho cơn bão dừng lại—“Im đi! Câm đi!”—và cơn gió và sóng vâng lời Ta (Xem Mc 4:35-39). Một ngày nọ, Ta sẽ ngừng mọi cơn bão nơi thế gian này, và lau khô nước mắt của những người bị áp bức và những ai đang bị hành hạ dã man.

Cho đến khi đó, con có thể có được bình an thật sự và lâu dài nơi tâm hồn—bình an có thể đứng vững trước bất cứ điều gì—bằng cách đón nhận Ta như là Đấng Cứu Độ và quay sang Ta trong lúc con cần. “Trong thế gian, anh em sẽ gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16:33). Ta sẽ luôn ở bên cạnh con.

Published by

James

I am a missionary of Jesus Christ serving God in Japan.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *