A Life Well Lived – Sống Khỏe Mạnh

A life well lived

Finding Meaning

One of the central questions that philosophers and theologians have struggled with for millennia is the mystery of what gives life meaning. Everyone wants to be happy and fulfilled, but how can we tell what true happiness is and where it comes from?

The ancient Greeks believed that the source of happiness was internal and could be cultivated by living a worthwhile life. They called this state eudaimonia, which Aristotle described as taking part in activities that draw on our talents and challenge our abilities, acting in ways that benefit others, and guiding our lives by principles and virtues. It isn’t enough to simply possess an ability or disposition—eudaimonia requires it to be put into action with deeds.

In Paul’s letter to the Ephesians, he begs the Christians there to live a life worthy of their calling (See Ephesians 4:1). He goes on to explain that this is done through being humble, gentle, patient, tolerant, loving, and peaceable toward those around them.

Living a virtuous and principled life sounds good. Unfortunately, as humans, our imperfect nature often makes us unable to achieve this on our own. As believers, however, we can draw on God’s power to help us go further in transcending our limitations. “It is God who arms me with strength and makes my way perfect.” (Psalm 18:32)

Solomon, supposedly the wisest person who ever lived, also discovered the futility of a life lived only for self and this world, but he hit on the solution. At the end of his search for meaning and happiness in the book of Ecclesiastes, he concludes, “Everything you were taught can be put into a few words: Respect and obey God! This is what life is all about.” (Ecclesiastes 12:13 CEV )

The more we learn to put God and the well-being of others at the center of our thoughts and actions, the more meaning and purpose our lives will have.

Tìm ý nghĩa

Một trong những câu hỏi trọng tâm mà những nhà triết và thần học đã phải cố lý giải trong suốt hàng nghìn năm chính là bí ẩn về điều gì mang đến ý nghĩa cho cuộc sống. Mọi người muốn cảm thấy hạnh phúc và cảm thấy được thỏa nguyện, nhưng làm thế nào chúng ta có thể biết được hạnh phúc thật sự là thế nào và đến từ đâu?

Người Hy Lạp cổ tin rằng hạnh phúc đến từ bến trong tâm hồn và có thể được nuôi dưỡng thông qua việc sống một cuộc sống có ý nghĩa. Đây được gọi là trạng thái eudaimonia (trạng thái mãn nguyện hạnh phúc), mà nhà triết học Aristotle đã miêu tả tương tự như khi tham gia vào những hoạt động có thể phát huy những tài năng và thách thức khả năng của bản thân, hành động theo những cách mang lại lợi ích cho người khác, và định hướng cuộc sống của chính mình theo những nguyên tắc và giá trị đạo đức. Không phải chỉ là có được một khả năng hay một ý định—eudaimonia đòi hỏi phải hành động.

Trong thư của tông đồ Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-sô, ông đã nài nỉ những tín hữu nơi đây sống một cuộc sống xứng đáng với ơn gọi của mình (Xem Ep 4:1). Ông tiếp tục giải thích rằng đó là sống khiêm tốn, hòa nhã, kiên nhẫn, bao dung, yêu thương, và ôn hòa với những người xung quanh.

Sống một cuộc sống có nguyên tắc và đức hạnh có vẻ tốt. Nhưng đáng tiếc, là con người, với bản chất không hoàn hảo thường khiến chúng ta không thể tự mình đạt được điều này. Tuy nhiên, là những tín hữu, chúng ta có thể nhờ đến sức mạnh của Chúa để giúp chúng ta vượt qua giới hạn của bản thân mình. “Chính Thiên Chúa đã làm cho tôi nên hùng dũng, và cho đường nẻo tôi đi được thiện toàn” (Tv 18:32).

Salomon, người được xem là khôn ngoan nhất, cũng đã nhận ra rằng cuộc sống vô nghĩa khi chỉ sống cho bản thân và cho thế gian này, nhưng ông đã vô tình tìm ra được giải pháp. Trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa và hạnh phúc trong sách Giảng viên, ông đã đưa ra kết luận: “Lời kết luận cho tất cả mọi điều bạn đã nghe ở trên đây là: hãy kính sợ Thiên Chúa và tuân giữ các mệnh lệnh Người tuyền. Đó là tất cả đạo làm người” (Gv 12:13).

Nếu chúng ta càng học biết cách đặt Chúa và hạnh phúc của người khác làm trung tâm của mọi suy nghĩ và hành động, cuộc sống của chúng ta sẽ càng có ý nghĩa và có mục đích hơn.

Valerie Therapy

By Anna Theresa Koltes

It was a perfect spring day. A gentle wind, warm and coaxing, announced the arrival of the season. Everyone around me was in a good mood. But it’s often on days like these, when we least see it coming, that God tends to surprise us with a little learning. 

That morning, I received an unexpected letter from a friend. It contained a substantial smudge of bad news—enough to sink my happy boat and pull a few more down with it. I was devastated. Suddenly everyone else’s cheeriness was aggravating. I wished they would all just go away and take the sunshine with them.

All kinds of dark and inconvenient thoughts were wading through my mind when my neighbor called.

“The doctor’s office rescheduled my appointment to earlier this afternoon, but I have a problem. There won’t be anyone home to watch Valerie. Do you think you could hang out with her till I get back?”

My boat let out its last sputter before sinking. Babysit? Me? The last thing I wanted was to pollute a child’s youthful innocence with my wretched mood.

I tried to get out of it but finally accepted. Poor child!

In a bit, I found myself standing in their flat, feeling stressed and grumpy.

Valerie bounded in. “I’ve got new crayons!” she exclaimed.

She was smiling, and I forced myself to do the same. “You mean … coloring?”

She nodded, before disappearing and returning a wink later with a red suitcase bursting with drawing materials.

Honestly, I didn’t much feel like coloring, but I kicked myself and helped Valerie dump everything onto the table. We put on a Tchaikovsky CD and got to work coloring a picture of a wild woman with multicolored flowing hair. Surprisingly enough, time flew by, as I was carried away into a utopia of classical music and art.

Well, I don’t know if you would call that “art,” so let’s settle for “therapy.”

By the time three hours had passed, we’d created more than a few abstract masterpieces, listened to a whole lot of Swan Lake, and I’d found peace. With a clear mind, I realized that even when there are great disappointments or catastrophes in our lives, there is always a solution.

Mine was simple. Unexpected. Refreshing.

And highly recommended. 

Liệu pháp Valerie

Anna Theresa Koltes

Đó là một ngày xuân hòan hảo. Gió nhẹ, ấm áp, ngọt ngào, báo hiệu mùa xuân đã đến. Mọi người xung quanh tôi đều có tâm trạng rất tốt. Nhưng thường vào những ngày như thế này, vào lúc chung ta không ngờ đến thì Chúa lại khiến ta phải bất ngời bằng một bài học nhỏ.

Buổi sáng hôm ấy, tôi bất ngờ nhận được bức thư từ một người bạn. Bức thư chứa đựng sương giá của tin xấu—đủ để nhấn chìm con tàu hạnh phúc của tôi và kéo xuống cùng nó một số điều khác. Một sự tàn phá. Bỗng nhiên, sự vui vẻ của người khác làm tôi phát cáu. Tôi ước gì tất cả họ biến đi nơi khác cùng với ánh sáng mặt trời của họ.

Mọi loại suy nghĩ chán nản và phiền phức đang tấn công tâm trí tôi thì một người hàng xóm gọi điện.

“Phòng mạch bác sĩ dời cuộc hẹn của chị lại sớm hơn vào trưa nay, nhưng có một vấn đề. Không có ai ở nhà trông Valerie. Em có thể ở cùng bé cho đến khi chị về không?

Con thuyền của tôi nỗ những tiếng lạch bạch cuối cùng trước khi chìm. Trông trẻ ư? Là tôi sao? Điều cuối cùng tôi muốn chính là làm vấn đục sự ngây thơ của một đứa trẻ bởi tâm trạng tồi tệ của mình.

Tôi cố thoát ra khỏi suy nghĩ ấy, nhưng không được. Đứa trẻ đáng thương!

Chẳng mấy chốc, tôi đến căn hộ của họ, cảm thấy căng thẳng và bực bội.

Valerie xuất hiện. “Con mới có hộp bút màu sáp mới!” cô bé khoe.

Cô bé mỉm cười, và tôi cũng cố gượng cười theo. “Con muốn tô màu à?”

Cô bé gật đầu, trước khi biết mất và trở lại ngay lập tức với chiếc cặp màu đỏ đựng đầy dụng cụ vẽ.

Thú thật, tôi chẳng mấy thích tô màu, nhưng tôi cố ép mình giúp Valerie đổ mọi thứ ra bàn. Chúng tôi mở đĩa nhạc Tchaikovsky và bắt đầu tô bức tranh người đàn bà hoang dã với mái tóc dài đủ màu. Thật ngạc nhiên, thời gian trôi nhanh, khi tôi trở nên hào hứng với âm nhạc cổ điển và hội họa.

Tôi không biết bạn có gọi đó là “hội họa” hay không, vậy hãy gọi đó là “liệu pháp”.

Trong 3 tiếng đồng hồ, chúng tôi đã hoàn thành một vài bức tranh trừu tượng, nghe được cả một bài dài Hồ Thiên Nga, và tôi tìm thấy bình an. Với một tâm trí minh mẫn, tôi nhận ra rằng ngay cả khi có những nỗi thất vọng hoặc tai họa to lớn gì xảy ra trong cuộc sống của chúng ta, luôn có một giải pháp.

Giải pháp của tôi đã thật bất ngời, tươi mới và đơn giản.

Và đó là lời khuyên chân thành của tôi.

Không một hành động tử tế nào, dù nhỏ hay lớn mà lãng phí cả.—Aesop (620 BC – 560 BC)

Một trong những ý định xuất sắc nhất chính là chúng ta có thể có được trong hành động của chúng ta, chính là vì Thiên Chúa đã làm chúng.—Thánh Francis de Sales (1567-1622)

Present Seeds, Future Blossoms

By Peter van Gorder

Walking through a botanical garden in Kolkata, India, I was enthralled by the vibrant and vivid colors of the flowers. For a few hours, I felt like I’d been transported away from the hustle of the city and into a world of beauty. On my way out, I popped into the office to compliment the staff on the good job they do in arranging and caring for the plants.

The director was in that day, and he was happy to share information about the place. I learned that the missionary William Carey started this institution—the oldest of its kind in India—in 1820, with a goal of helping the local people in a practical way. He saw the local farmers using inferior seeds and ineffective farming techniques, and he wanted to improve their livelihoods and help them to realize, as he put it, “the capabilities of the soil to enrich a nation to an almost indefinite extent.”

Carey’s vision was a whole lot greater than just planting and exhibiting pretty flowers. He gathered near-extinct species of plants and nurtured them in the society’s garden so they’d be preserved for the future. He also included maize, cotton, tea, sugar cane, and cinchona1 from various countries and introduced the concept of plantation farming to this part of India. He was successful in imparting this vision to others, and the society he created helped pioneer the introduction of a wide array of cereals, cash crops, fruits, vegetables, and other trees and plants.

I was struck by how Carey’s legacy lives on almost two centuries after he had his initial idea. When he started this garden, it was a completely out-of-the-box concept and it is likely that he faced many challenges and much opposition. Yet, in addition to caring for his ill wife, translating the Bible into several local languages, and trying to abolish the practice of suttee (widow immolation), Carey persevered.

The garden was moved several times, until it was finally established at its present location in 1870. Here, it has survived wars, riots, droughts, and disasters. The vast land area it sits on is now prime real estate in the center of the city, and I’m sure there are quite a few people who would like to see it turned over to more profitable development schemes, but the garden has become a valuable asset for the community, and it is unlikely to be surrendered to greed. To attempt a project like this today in this location would be a monumental—if not impossible—task. It was Carey’s foresight and hard work all those years ago that make it possible for people today to enjoy a little taste of heaven on earth.

It made me realize that what we do now can have a huge impact on the future and the generations to come. Carey’s work on the garden shows what a legacy we can leave behind. He followed his vision, and it has borne much fruit, both literally and figuratively. We sometimes don’t fully appreciate the magnitude of our influence. Every soul we touch or help will have a ripple effect down through the ages into eternity, but it takes breaking the ground and planting that first seed to make a garden.

Hạt giống hiện tại, hoa trái tương lai

Peter Van Gorder

Đi dạo trong khu vườn thực vật ở Kolkata, Ấn độ, tôi bị mê hoặc bởi những màu sắc sống động và sặc sỡ của những bông hoa. Trong vài tiếng đồng hồ, tôi cảm thấy như mình được mang đi khỏi sự chen lấn nơi thế gian để đến một thế giới xinh đẹp. Trên đường đi ra, tôi bước vào văn vòng để bày tỏ lời khen với nhân viên đã làm rất tốt việc sắp xếp và chăm sóc khu vườn.

Vị giám đốc cũng ở đó ngày hôm ấy và rất vui vẻ chia sẻ thông tin về khu vườn này. Tôi biết được rằng nhà truyền giáo William Carey đã thành lập viện này—một viện cổ nhất ở Ấn Độ–vào năm 1820, với mục tiêu giúp đỡ người địa phương bằng cách thiết thực. Ông đã nhìn thấy những người nông dân địa phương sử dụng những hạt giống kém chất lượng và những kỹ thuật nông nghiệp kém hiệu quả, và ông muốn cải thiện kế sinh nhai của họ và giúp họ nhận ra điều đó khi ông nói: “khả năng mà đất làm giàu cho một quốc gia là một phạm vi gần như không hạn định.”

Tầm nhìn của Carey hoàn toàn không chỉ là trồng và triển lãm những loại hoa đẹp. Ông tập hợp những giống cây gần như tuyệt chủng và nuôi dưỡng chúng trong một khu vườn của cộng đồng để nhờ đó, chúng có thể được bảo tồn trong tương lai. Ông cũng đã trồng cây ngô, gòn, trà, mía và cinchona (một loại cây xanh mà vỏ của nó được dùng để tạo ra chất quinine, một chất chống sốt rét) từ những nước khác nhau để đưa vào mô hình vườn ươm ở Ấn độ này. Ông đã thành công trong việc phổ biến ý định của mình đến mọi người, và nhóm người ông lập nên đã tiên phong trong việc giới thiệu một loạt các loại cây ngũ cốc, những cây hoa màu, trái cây, rau, và những loại cây trồng khác.

Tôi ấn tượng trước gia sản của Cary tồn tại gần hai thế kỷ kể từ sau ý tưởng ban đầu của ông. Khi ông bắt đầu khu vườn này, đây hoàn toàn là một ý tưởng rất sáng tạo và ông phải đối mặt với rất nhiều những thách thức và phản đối. Tuy nhiên, ngoài việc chăm sóc cho người vợ bị bệnh, dịch Kinh Thánh sang nhiều ngôn ngữ địa phương, và cố xóa bỏ tục lệ thiêu sống vợ theo chồng (tế góa phụ), Carey đã rất kiên định với ý tưởng của mình.

Khu vườn bị di dời nhiều lần, cho đến khi cuối cùng nó được chuyển đến vị trí hiện tại vào năm 1870. Tại đây, nó đã tồn tại qua những cuộc chiến tranh, những cuộc bạo loạn, hạn hán và thiên tai. Khu đất rộng mà nó tọa lạc giờ đây chính là khu đất cao cấp ngay trung tâm thành phố, và tôi chắc rằng có số ít người muốn mảnh đất này hóa thành một khu phát triển sinh lợi, nhưng giờ đây, khu vườn này đã trở thành một tài sản giá trị cho cộng động, không bị khuất phục bởi lòng tham. Để nỗ lực xây dựng cả một dư án như ngày nay ở vào vị trí này quả là một việc làm đồ sộ–nếu không nói là điều không thể. Đó chính nhờ cái nhìn xa trông rộng và vất vả của Carey suốt nhiều năm để người đời ngày nay tận hưởng một chút thiên đàng nơi thế gian.

Điều này giúp tôi nhận ra rằng những gì chúng ta làm lúc hiện tại có thể ảnh hưởng to lớn đến tương lai và những thế hệ tiếp theo. Công việc của Carey nơi khu vườn đã cho thấy một tài sản mà chúng ta có thể để lại đời sau. Ông đã theo đuổi giấc mơ của mình, và đã sinh hoa trái, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đôi khi chúng ta không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những ảnh hưởng của chính mình. Mỗi một tâm hồn mà chúng ta chạm đến hoặc sự giúp đỡ có ảnh hưởng lan rộng khắp nhiều thế hệ cho đến vĩnh cửu, nhưng nó cần xới đất và gieo hạt đầu tiên để tạo nên cả khu vườn.

Making a Difference

The vocation of every man and woman is to serve other people.
—Leo Tolstoy (1828–1910)

“I’d like to add some beauty to life,” said Anne dreamily. “I don’t exactly want to make people know more … though I know that is the noblest ambition … but I’d love to make them have a pleasanter time because of me … to have some little joy or happy thought that would never have existed if I hadn’t been born.”
—Anne Shirley in Anne’s House of Dreams, by Lucy Maud Montgomery (1874–1942)

Picture the farmer. He’s finished a difficult year; he’s fretting about the future. Will the coming year’s harvest be any better? No matter his dismay, he can’t just stay in the farmhouse, staring into his tea at the kitchen table. He’s got to think about the future of the farm, about his family.
So he picks himself up. He goes out with trepidation, planting his seeds. Winds will blow, rain will fall, sun will shine. In time, the crops will grow. He’ll come back to the farmhouse a lot happier, with the fruits of the harvest safely in his barn.
If he had not been able to visualize the results, he never would have sown the seeds. If he had never gone out, there would be no harvest. Let’s leave our comfort zone and step out to realize our goals, even when it is difficult. That’s how we’ll make a difference.
—Chris Hunt

Tạo nên sự khác biệt

Nghề nghiệp của mọi nhân loại chính là phục vụ người khác.—Leo Tolstoy (1828-1910)

“Tôi muốn góp thêm vẻ đẹp cho cuộc sống,” Anne đã nói một cách đầy mơ mộng. “Tôi thật sự không muốn mọi người “biết” nhiều hơn…mặc dù tôi biết rằng đó chỉ là một tham vọng viễn vong…nhưng tôi muốn mọi người có thời gian vui vẻ hơn nhờ tôi…có được niềm vui nhỏ nhoi hoặc suy nghĩ hạnh phúc mà vốn sẽ không bao giờ tồn tại nếu tôi đã không được sinh ra.—Anne Shirley (1874-1942)

Hãy nghĩ đến người nông dân. Ông vừa trải qua một năm khó khăn; ông lo lắng về tương lai. Liệu vụ mùa năm sau có khá hơn chút nào không? Cho dù chán chường thế nào, ông không thể chỉ sống trong ngôi nhà nông, nhìn chằm chằm chiếc bàn bếp. Ông phải suy nghĩ cho tương lai của nông trại, cho gia đình.

Vì thế, ông phải phấn chấn lên. Ông ra đi và gieo hạt. Gió thổi, mưa rơi, mặt trời chiếu sáng. Ông trở lại nông trại với vẻ hạnh phúc hơn rất nhiều, với trái ngọt từ vụ mùa được cất trữ an toàn trong kho.

Nếu ông không thể nhìn thấy kết quả, ông sẽ không bao giờ gieo hạt. Nếu ông không bao giờ bước ra ngoài, sẽ không có mùa màng. Hãy bước ra khỏi “vùng thoải mái” của bạn và bước ra ngoài để nhận ra những mục tiêu của mình, ngay cả khi khó khăn. Đó là cách chúng ta làm nên một sự khác biệt.—Chris Hunt

The Green Wristband

By Mila Nataliya A. Govorukha

My first visit to the Exit rock festival—held annually in the shadow of a beautiful castle in Novi Sad, a pretty Serbian town on the Danube River—was unforget­table. There were stages everywhere and the streets were filled with crowds, huge tent villages resounding with all styles of music, aromas of chevapi, the local meat dish, and an atmosphere of brotherhood, havoc, and freedom. But for a time it looked as though I wasn’t going to take part at all.

I and a fellow volunteer from Denmark had traveled from Bosnia to attend and were met outside the festival grounds by colleagues who organized humanitarian projects in Serbia and Kosovo. The plan was to gather a 50-odd group of volunteers who would use music as a way of reaching the youth with God’s love, as well as an anti-drugs and anti-violence message.

We had been assured free entrance, but unfortunately this didn’t materialize. The administration offered a discount but couldn’t waive the fees completely.

My companion and I didn’t know what to do. It wasn’t that large a sum, but we had limited funds. If we paid the entrance fee, we risked not having enough money for our return journey; and the alternative was to return home immediately, without doing anything of what we had come for. How we envied those wearing the bright green wristbands that allowed them entrance.

Then a woman we had never met before approached and began a conversation. When we introduced ourselves, she exclaimed, “Oh, I’ve heard of your work in Sarajevo! I need to go fetch something, but could you wait just a short while?”

The woman—Maria—came back a few minutes later, holding a couple of green wristbands, one for each of us. As she tagged them onto our wrists, she commented, “I was planning to buy some souvenirs to take home, but I’d rather make it possible for you to attend.”

That was just the beginning of a great time at the Exit festival. We sang songs on the streets and squares, we distributed Christian literature, we participated in meaningful skits, we held countless conversations with people of all ages and nationalities, we prayed with hundreds, and we spent unforgettable days with friends.

Thank you, Maria, for your generosity that made it possible for us to participate.

Vòng tay màu xanh lá

Mila Nataliya A. Govorukha

Chuyến viếng thăm đầu tiên của tôi đến lễ hội nhạc rock Exit—được tổ chức hằng năm nơi bóng râm của tòa lâu đài xinh đẹp ở Novi Sad, thị trấn Sebian xinh đẹp bên sông Danube—là một chuyến viếng thăm khó quên. Sân khấu khắp mọi nơi và những con đường đông đúc người, những ngôi làng căng lều to vang dội đủ loại âm nhạc, mùi hương chevapi, món thịt đặc sản địa phương, và không khí thân thiện, sự đông đúc và tự do. Nhưng có lúc có vẻ như thể tôi chẳng hề tham dự gì cả.

Tôi và người bạn tình nguyện đến từ Đan Mạch đã đến từ Bosnia để tham dự và gặp những người bạn đồng nghiệp bên ngoài sân lễ hội, những người đã tổ chức những dự án tự thiện ở Sebia và Kosovo. Kế hoạch là phải tập hợp hơn 50 nhóm tình nguyện viên, những người sẽ sử dụng âm nhạc để cho giới trẻ biết tình yêu của Chúa cũng như gửi đến thông điệp phản đối ma túy và bạo lực.

Chúng tôi đã tưởng rằng được miễn phí vào cổng, nhưng không may, có phí. Người quản lý giảm giá cho chúng tôi, nhưng không hoàn toàn miễn giảm phí.

Người bạn đi cùng và tôi không biết phải làm sao. Đó không phải là một số tiền lớn, nhưng ngân sách của chúng tôi rất hạn hẹp. Nếu trả tiền vào cổng, chúng tôi có thể không đủ tiền cho chuyến hành trình trở về; và lựa chọn đưa ra là lập tức trở về nhà mà không làm được gì điều mà chúng tôi định đến làm. Chúng tôi ganh tị với những ai đang đeo trên tay chiếc dây màu xanh lá cho phép họ vào cổng.

Sau đó, một người phụ nữ chúng tôi chưa từng gặp tiến đến và bắt đầu cuộc trò chuyện. Khi chúng tôi tự giới thiệu về mình, bà thốt lên: “Ồ, tôi có nghe về công việc của các bạn ở Sarajevo! Tôi cần lấy vài thứ, các bạn có thể chờ tôi một chút được không?”

Người phụ nữ–có tên là Maria—quay trở lại sau vài phút, cầm trong tay hai chiếc vòng đeo tay màu xanh, cho mỗi người chúng tôi. Khi đeo vào tay cho chúng tôi, bà nói: “Tôi định mua vài món quà lưu niệm mang về, nhưng thay vào đó, tôi giúp các bạn có thể vào cổng.”

Đó chỉ là khởi đầu của khoảng thời gian tuyệt vời tại lễ hội Exit. Chúng tôi đã hát trên những con đường và những quảng trường, và chúng tôi đã phân phát những tài liệu dành cho tín hữu, chúng tôi đã tham gia vào những vở kịch ngắn đầy ý nghĩa, chúng tôi đã có vô số những cuộc trò chuyện với rất nhiều người ở mọi độ tuổi, quốc tịch, chúng tôi đã cầu nguyện với hàng trăm người và trải qua những ngày khó quên cùng với những người bạn.

Cám ơn Maria về tấm lòng quảng đại đã giúp chúng tôi có thể tham gia.

Who’s it For?

By Gene Kato

There have been times when I’ve felt I was playing a game of pretending to be a good person; for instance, when I was volunteering for relief work after the 2011 Tohoku earthquake and tsunami in Japan. Part of me sincerely wanted to help and make a difference, but I also knew it was what I should want to do, and I was happy to be seen as someone who wanted to help.

At the time, I threw my heart and soul into relief work. It was nice to feel like I was serving. It was even nicer to be recognized for it. Soon I began questioning why other people weren’t doing as much as I, and I found myself looking down on others. It didn’t take too long before things started to unravel.

The breaking point came one morning when, ironically, I overslept. I was meant to be a driver in a convoy that was leaving for Tohoku at 6 am, but my alarm failed, and I was awakened by a phone call at 6:15. I jumped out of bed, scrambled around to get ready as fast as possible, wondering how I could have let this happen. My girlfriend was planning on coming along as well, but I was in such a rush that I didn’t wait for her.

As I drove off, I had a sneaky suspicion that something wasn’t right, but I also had a raging headache and a carload of eager volunteers talking nonstop, so I brushed it off. An hour down the road, however, I received a series of irate SMSs from my girlfriend ending with “I hate you.”

I had a five-hour drive to think about it, and the more I did, the more I too hated myself. Over the previous months, I had “left behind” other people too, because they couldn’t keep up or because I wanted to be all by myself out front.

I called my girlfriend that night and asked for her forgiveness, and then I spent some time talking to Jesus, asking for His forgiveness too. I like to think that a few things changed that day. Not so much in what I did, but in the way I did it. I still have a lot of goals, but I want to accomplish them the way Jesus would, lovingly and kindly. That’s the only way that what I build will last and mean something.

Vì ai?

Gene Kato

Có những lúc tôi có cảm giác như mình đang chơi trò chơi giả vờ làm người tốt; chẳng hạn như lúc tôi tham gia hoạt động tình nguyện giúp giảm nhẹ thiên tai sau trận động đất Tohoku và sóng thần năm 2011 ở Nhật bản. Một phần trong tôi chân thành muốn giúp đỡ và tạo nên một sự thay đổi, nhưng tôi cũng biết đó là điều bản thân tôi “nên” muốn làm, và tôi hạnh phúc khi được mọi người nhìn thấy tôi là một người luôn sẵn sàng giúp đỡ.

Lúc ấy, tôi toàn tâm toàn ý làm công việc giúp giảm nhẹ thiên tai. Tôi cảm thấy thật dễ chịu khi phục vụ. Và thậm chí cảm thấy tốt hơn nữa khi được nhận biết. Chẳng bao lâu, tôi bắt đầu tự hỏi tại sao những người khác không làm nhiều như tôi, và tôi nhận thấy mình đang đánh giá thấp những người khác. Và không mất nhiều thời gian trước khi mọi việc bắt đầu sáng tỏ.

Điểm nhấn chính là vào một buổi sáng, thật nực cười, tôi đã ngủ dậy muộn. Tôi được phân công là người lái xe trong đoàn để đến Tohoku vào 6 giờ sáng, nhưng đồng hồ báo thức đã không reng, và tôi đã được đánh thức bởi một cú điện thoại vào lúc 6 giờ 15. Tôi nhảy ra khỏi giường, chạy lung tung khắp nơi để sẵn sàng nhanh nhất có thể, tự hỏi làm thế nào mình có thể để việc như thế này xảy ra. Bạn gái của tôi cũng dự định đi cùng, nhưng tôi vội đến nỗi đã không đợi cô ấy.

Khi lái xe đi, tôi có chút nghi ngờ điều gì đó không ổn, nhưng vì quá nhức đầu và những tình nguyện viên trên xe không ngừng nói chuyện, nên tôi chẳng để ý thêm. Tuy nhiên, khoảng một giờ sau, tôi nhận được một loạt những tin nhắn giận dữ của bạn gái với lời kết thúc: “em ghét anh”.

Tôi có 5 tiếng đồng hồ lái xe để suy nghĩ về điều ấy, và càng suy nghĩ tôi càng thấy ghét bản thân mình. Suốt những tháng qua, tôi cũng đã “bỏ lại phía sau” rất nhiều người, bởi vì họ không thể theo kịp tôi hoặc bởi vì tôi muốn bản thân mình nổi trội.

Tôi đã gọi cho bạn gái vào tối hôm đó để xin lỗi và sau đó dành thời gian trò chuyện với Chúa Giê-su, và cũng xin Ngài tha lỗi. Một vài chuyện đã thay đổi vào ngày hôm ấy. Không nhiều trong những gì tôi đã làm, nhưng trong cách thức tôi làm. Tôi vẫn có rất nhiều mục tiêu, nhưng tôi muốn hoàn thành chúng theo cách Chúa Giê-su làm, theo cách yêu thương và tử tế. Đó chính là cách duy nhất để cho những gì tôi làm được bền vững và có ý nghĩa.

Whether or Not an Angel

By Sonia Purkiss

Hebrews 13:2 says, “Do not forget to show hospitality to strangers, for by doing so some people have shown hospitality to angels without knowing it.”

I’ve known this verse since I was a child, and I remember imagining that people I interacted with were angels in disguise, which made me try to be courteous and friendly in most situations. Sadly, as I grew up, it grew easier to show a tough exterior and to keep people at arm’s length.

When I was 17, however, I had an interesting encounter that brought to life this verse and others on the topic of kindness. My family lived in Taiwan at the time, and I had an appointment for a checkup at a hospital. My dad was supposed to meet me there to help translate, as I hadn’t mastered Chinese well enough to understand medical terms. However, he was running late and I realized I might have to manage without him, which was very intimidating for me.

While I was struggling to fill out a form all in Chinese, a young man who spoke English fluently approached and asked if I needed any help. I was frazzled and felt under pressure, so I acted a bit annoyed and aloof—but I did need help, so I ungratefully accepted.

Once the forms were filled out, the young man helped me find the floor and waiting room for my appointment. Once he left, I let out a sigh of relief and called my dad to let him know where to find me, but he still hadn’t arrived by the time my name was called. I went into the doctor’s office and asked if he spoke English. He didn’t.

More frustrated than ever, I was about to leave, when the door opened and the same young man came in unannounced and said he would translate for me. I knew I should have been grateful, but I couldn’t hide my annoyance at the whole situation.

Finally the appointment was over. “I’d better stay with you until your dad shows up, just in case you need my help again,” the young man said as we left the room. Instead of engaging in conversation with him, I kept my arms crossed and silently brooded.

When my dad finally arrived, he and the young man quickly and easily struck up a conversation, and when it was time to leave, they shook hands. I reached out my hand as well, but the young man backed away and put his hands up. “No, no, I was glad to help,” he said.

During the drive home, I had time to regret my attitude. Why was I so rude to him anyway? It’s not his fault my dad wasn’t there to help, and it was actually very friendly of him to step in. It occurred to me that if he had been an angel, I had certainly failed in showing him hospitality. Over the next few days, I thought about this encounter a lot—not so much trying to decide if he was an angel, but more generally considering the way I treated people.

You see, it didn’t matter whether that young man was an angel or not. This event helped to remind me of the important fact that everyone deserves to be treated with kindness and respect, regardless of who they are or how we feel. Here someone had gone out of his way to help me, and I repaid him by acting aloof and snubbing him. I never even asked for his name.

How much would it have cost me to be kind and show gratitude, the way Jesus would have done? Probably only a morsel of my pride.

I hoped I would bump into that young man again, so I could apologize and tell him how sorry I was for how I’d acted; but we don’t always get a second chance, as I didn’t. What I could do, however, was determine to let that experience change me so I would act better the next time with another person, in another situation.

Even if others are discourteous or plain rude, which wasn’t the case in this instance, God’s Word instructs us to “clothe [our]selves with tenderhearted mercy, kindness, humility, gentleness, and patience” ((See Titus 3:1–2)) in our interactions with them. Our kindness toward others shouldn’t be dependent on how they treat us.
I have since stopped looking for angels in disguise (although it would be fun to know I have met one!) and have instead focused on trying to follow Jesus’ example of being ready to do good, slandering no one, being peaceable and considerate, and always gentle toward everyone3—whether they are angels or not.

Dù phải là thiên thần hay không

Sonia Purkiss

Do thái 13:2 có viết: “Đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết”.

Tôi đã biết câu Kinh thánh này từ khi còn nhỏ, và tôi nhớ đã tưởng tượng mọi người mà tôi gặp đều là thiên thần, điều này giúp tôi cố gắng cư xử nhã nhặn và thân thiện trong hầu hết mọi tình huống. Đáng buồn thay, khi lớn lên, tôi lại dễ thể hiện vẻ ngoài khó khăn và giữ khoảng cách với mọi người.

Tuy nhiên, năm tôi 17 tuổi, tôi đã có một cuộc gặp gỡ thú vị giúp mang câu Kinh thánh này trở lại với cuộc sống và nhiều câu kinh thánh khác về chủ đề sự tử tế. Lúc ấy, gia đình tôi đang sống tại Đài Loan, và tôi có một cuộc hẹn khám bệnh tại bệnh viện. Bố sẽ gặp tôi tại bệnh viện để giúp thông dịch, vì tôi không giỏi tiếng Trung Quốc cho lắm để hiểu những thuật ngữ y học. Tuy nhiên, bố đã đến trễ và tôi nhận ra mình phải tự xoay sở mà không có bố bên cạnh, điều này khiến tôi rất sợ hãi.

Khi tôi đang rất khó khăn để điền vào tờ đơn toàn tiếng Trung Quốc, một người đàn ông trẻ tuổi nói tiếng Anh lưu loát đến gần và hỏi tôi có cần giúp đỡ không. Tôi cảm thấy mỏi mệt và căng thẳng, nên đã hành động hơi bực bội và khó gần—nhưng tôi thật sự cần giúp đỡ, vì thế tôi đã chấp nhận sự giúp đỡ một cách vô ơn.

Khi điền xong mẫu đơn, người đàn ông trẻ tuổi giúp tôi tìm tầng lầu và phòng chờ cho cuộc hẹn của tôi. Khi ông ta rời khỏi, tôi thở phào nhẹ nhõm và gọi cho bố để nói cho bố biết chỗ để tìm tôi, nhưng bố vẫn chưa kịp đến khi tên tôi được gọi. Tôi bước vào phòng bác sĩ và hỏi liệu ông có nói được tiếng Anh không. Ông không nói tiếng Anh,

Thất vọng hơn bao giờ hết, tôi vừa định rời khỏi thì cánh cửa mở ra, và cùng một người đàn ông đó bước vào không báo trước và nói sẽ thông dịch cho tôi. Tôi biết mình nên biết ơn về điều đó, nhưng tôi không thể che dấu vẻ bực bội trước tình huống mình gặp phải.

Cuối cùng, cuộc hẹn đã xong. “Tốt hơn tôi nên ở cùng cậu cho đến khi bố cậu đến, trong trường hợp cậu cần sự giúp đỡ của tôi,” người đàn ông trẻ nói khi chúng tôi rời khỏi phòng bác sĩ. Thay vì trò chuyện với ông ta, tôi lại khoanh tay và giữ im lặng.

Cuối cùng, bố cũng đã đến, ông và người đàn ông trẻ dễ dàng và nhanh chóng bắt đầu cuộc trò chuyện, và khi ra về, họ đã bắt tay. Tôi cũng đã chìa tay ra, nhưng người đàn ông trẻ đã lùi lại và giơ tay lên. “Không, không có gì đâu, tôi mừng vì được giúp đỡ,” ông nói.

Suốt trên đường về nhà, tôi đã hối tiếc về thái độ của mình. Tại sao tôi lại khiếm nhã với ông ta như vậy? Không phải vì lỗi của ông ta mà bố đã không thể đến kịp để giúp tôi, và sự thật là ông đã rất thân thiện. Tôi chợt nghĩ, nếu ông ấy chính là thiên thần, tôi chắc chắn đã bỏ lỡ dịp tiếp đón ông. Suốt những ngày tiếp theo, tôi nghĩ về cuộc gặp gỡ ấy rất nhiều—không phải vì cố nghĩ xem ông có phải là thiên thần không, nhưng suy nghĩ nhiều về cách tôi cư xử với mọi người.

Bạn thấy đấy, việc người đàn ông trẻ ấy có phải là thiên thần hay không không quan trọng. Sự việc này giúp nhắc tôi nhớ về sự thật quan trọng rằng mọi người đều xứng đáng được cư xử bằng sự tôn trọng và tử tế, cho dù họ là ai hoặc tâm trạng của chúng ta đang thế nào. Trong trường hợp này, một người đã cố gắng để giúp đỡ tôi, và tôi đáp trả lại cho ông ta bằng sự lạnh nhạt và thiếu tôn trọng. Tôi thậm chí đã không hỏi tên của ông ta.

Tôi mất mát gì khi tử tế và bày tỏ sự biết ơn theo cách mà lẽ ra Chúa Giê-su đã làm? Có lẽ chỉ là một chút lòng kiêu hãnh của mình.

Tôi hy vọng mình có thể gặp lại người đàn ông ấy, để tôi có thể xin lỗi và nói cho ông ấy biết tôi hối lỗi thế nào trước những gì tôi đã cư xử; nhưng không phải lúc nào tôi cũng có được cơ hội lần hai. Tuy nhiên, điều tôi có thể làm chính là quyết tâm để cho trải nghiệm ấy thay đổi tôi, nhờ đó, tôi hành động tốt hơn vào lần sau với người khác, trong tình huống khác.

Ngay cả khi những người khác thiếu nhã nhặn, hoặc bất lịch sự, điều vốn dĩ không phải trong trường hợp này, Lời Chúa chỉ bảo chúng ta “phải có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3:12) trong tương tác của chúng ta với họ. Sự tử tế của chúng ta đối với họ không nên tùy thuộc vào cách họ cư xử với chúng ta.

Tôi đã thôi ngừng tìm kiếm những thiên thần (mặc dù điều ấy rất thú vị khi tôi gặp được thiên thần!) và thay vào đó, tôi chú ý việc cố gắng noi gương Chúa Giê-su, luôn sẵn sàng làm điều tốt, không nói xấu ai, ôn hòa, ân cần và luôn dịu dàng với mọi người (Xem Tt 3:1-2)—cho dù họ có phải là thiên thần hay không.

Candle on a Candlestick

By Peter Amsterdam, adapted

Manifesting God’s love to those whom He places in our path each day is at the heart of Christian life. Writing about this, the apostle Paul went so far as to say, “the love of Christ compels us” (2 Corinthians 5:14) to do so. In whatever specific ways God leads each of us to reach our part of the world with His love, He has called us to be “the light of the world” and to “let [our] light shine before people, so that they will see [our] good works and give glory to [our] Father who is in heaven.” (Matthew 5:14,16 ) Throughout the centuries—in fact, since the earliest days of Christianity—Christians have often reached the world through becoming known as a “force for good” in their community. Even when others didn’t necessarily embrace the Christians’ faith or understand their religion, or when the Christians were persecuted and maligned, their kind deeds and good works shone brightly before all men, resulting in people wanting to know what made them so different from much of society. As the apostle Peter instructed, “Live such good lives among the [unbelievers] that, though they accuse you of doing wrong, they may see your good deeds and glorify God.” (Colossians 3:12 )

As we each strive to reach out and offer a helping hand in our local communities; as we provide assistance—spiritual or practical, or both—to those God puts in our path; as we do our part to bring His love to others and to better their lives in whatever ways we are able, our good example will grow and serve as a “candle on a candlestick.” (1 Peter 2:12)

By reaching our neighbors, and translating our faith into tangible actions that express our love and concern, we can be living examples of God’s love. Even if you don’t have a lot of time and resources, you can still reach out to your community and take the initiative to fill a need, showing solidarity when possible, and an interest in the welfare and quality of life of others. In so doing, you’ll be putting God’s love into action.

Treat everyone with politeness, even those who are rude to you. Not because they are nice, but because you are.—Author unknown

The smallest act of kindness is worth more than the greatest intention.—Kahlil Gibran (1883–1931)

Cây nến trên đế

Phỏng theo bài viết của Peter Amsterdam

Thể hiện tình yêu của Chúa với những ai mà Ngài đặt trên đường đời của chúng ta mỗi ngày chính là điều trọng tâm trong đời sống người tín hữu. Viết về điều này, tông đồ Phao-lô đã trình bày: “Tình yêu Chúa Giê-su thúc bách” (2 Cr 5:14) để thực hiện điều ấy. Theo những cách thức cụ thể, Chúa dẫn dắt mỗi người chúng ta chạm đến một phần của thế giới bằng tình yêu của Ngài, Ngài đã gọi chúng ta trở thành “ánh sáng thế gian” và hãy “để cho ánh sáng của chúng ta chiếu sáng trước mặt thiên hạ, để mọi người nhìn thấy những việc tốt đẹp chúng ta làm để tôn vinh Cha của chúng ta, là Đấng ngự trên trời” (Mt 5:14, 16). Trải qua hàng thế kỷ–thực tế là kể từ khi thời tín hữu sơ khai—những tín hữu đã đến với thế giới thông qua việc trở thành những người được xem là có những “ảnh hưởng tốt đẹp” trong cộng đồng của họ. Ngay cả khi mọi người không xem trọng đức tin của tín hữu hoặc không hiểu về tôn giáo của họ, hoặc khi những người tín hữu bị bách hại, bị vu khống, những hành động tử tế và những việc làm tốt của họ chiếu sáng trước mặt mọi người, làm cho mọi người muốn biết về điều gì đã làm cho họ khác so với rất nhiều người trong xã hội. Như tông đồ Phê-rô đã chỉ dạy: “Hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để ngay cả khi họ vu khống, coi anh em là người gian ác, họ cũng thấy các việc lành anh em làm mà tôn vinh Thiên Chúa” (1 Pr 2:12).

Khi mỗi người chúng ta nỗ lực để bước ra đi và chìa đôi tay giúp đỡ trong cộng đồng chúng ta đang sống; khi chúng ta giúp đỡ–về tinh thần hay hành động, hoặc cả hai—những ai Chúa đặt trên đường đời của chúng ta; khi chúng ta làm phần việc của mình để mang tình yêu của Chúa đến với người khác và làm cho cuộc sống của họ trở nên tốt hơn bằng bất cứ cách nào chúng ta có thể, tấm gương tốt của chúng ta sẽ lan rộng và sẽ là “ngọn nến trên đế” (Mt 5:15).

Bằng cách đến với những người lân cận, và đặt đức tin vào trong những hành động có thể nhìn thấy được để thể hiện tình yêu và sự quan tâm của chúng ta, chúng ta có thể sống làm gương cho tình yêu của Chúa. Ngay cả khi bạn không có nhiều thời gian và nguồn lực, bạn vẫn có thể giúp đỡ cộng đồng của mình và chủ động đáp ứng nhu cầu, thể hiện tình đoạn kết và quan tâm đến lợi ích và chất lượng cuộc sống của người khác. Khi làm như thế, chính là bạn đang đặt tình yêu của Chúa vào trong hành động.

Hãy đối xử với mọi người bằng sự lễ phép, thậm chí với những người khiếm nhã với bạn. Không phải bởi vì họ tử tế, nhưng bởi vì bạn tử tế.—Khuyết danh

Hành động tử tế nhỏ bé nhất còn đáng giá hơn cả một ý định cao đẹp nhất—Kahlil Gibran (1883-1931)

Remembering Martha

By Joyce Suttin

My neighbor Martha passed away this week after a long battle with emphysema. I will miss Martha and have found myself thinking about her a lot these past few days.

When my husband Dan and I moved into the neighborhood, Martha invited us over for tea and cookies. We sat in her immaculate living room and talked about our family and the volunteer work we had been doing in Mexico. It felt like home, and I was thankful to have a neighbor like Martha who was concerned that we’d feel welcome.

I’ve looked out my window nearly every day for the past eight years and said a prayer for Martha. I’ve felt a responsibility to keep an eye out for her well-being and be there for her if she needed me.

Martha was alone, you see. She had no children, and her husband had already passed away. As her health declined this past year, Dan would collect her newspaper each morning and place it by her door so she could easily reach it. One day I noticed her gardener mowing her lawn. Then the sound got louder, and I realized he was mowing our lawn as well. Martha motioned to me from her doorway and told me she was thanking us for Dan’s kindness.

I admired Martha’s impeccable garden and was honored when she asked me to take care of her plants while she went on vacation. Martha’s plants were like her pets. She lavished love and care on them and they thrived.

The other day, Martha’s best friend came over. We talked for a few minutes, and she explained that Martha had set up a trust and the bank would be taking over her house. I asked about the plants and she advised me to collect them and look after them, because once the officials from the bank came and locked up the property, the plants in the backyard would be lost. Once again, I felt honored. Martha’s plants had brought her so much joy, and now they would bring joy to me and my family.

Martha taught me a lot, and I want to be sure that her legacy of kindness and friendship, like her plants, lives on. In the future, I will make a point of welcoming people into our neighborhood. I won’t pry or be invasive, but I’ll let them know I’m here if they need anything. We all need a good neighbor from time to time.

Nhớ về Martha

Joyce Suttin

Người hàng xóm của tôi, Martha đã qua đời tuần này sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh khí thũng. Tôi sẽ nhớ Martha lắm và những ngày qua đã nghĩ về cô ấy rất nhiều.

Khi chồng tôi, Dan và tôi dọn đến khu nhà của Martha, cô ấy đã mời chúng tôi ghé nhà dùng trà và bánh. Chúng tôi ngồi trong căn phòng khách trắng tinh khiết của cô nói chuyện về gia đình của chúng tôi và công việc tình nguyện chúng tôi đã làm ở Mexico. Cảm giác như ở nhà, và tôi tạ ơn vì có được một người hàng xóm như Martha, một người luôn quan tâm và làm cho chúng tôi luôn cảm thấy mình được chào đón.

Martha sống một mình. Cô ấy không có con cái, và chồng cô ấy đã qua đời. Khi sức khỏe của cô ấy suy yếu vào năm ngoái, Dan đã nhận báo mỗi buổi sáng và đặt bên cửa để cô ấy dễ dàng lấy. Một ngày nọ, tôi thấy người làm vườn của cô cắt cỏ. Sau đó, âm thanh lớn hơn và tôi nhận ra ông ta đang cắt cỏ cho chúng tôi. Martha ra hiệu cho tôi từ cánh cửa và nói với tôi rằng cô ấy rất biết ơn sự tử tế của Dan.

Tôi ngưỡng mộ khu vườn hoàn hảo của Martha và cảm thấy vinh hạnh mỗi khi cô ấy nhờ tôi chăm sóc khu vườn khi cô đi du lịch. Những chậu cây của Martha giống như thú cưng của cô ấy. Cô ấy yêu thương và chăm sóc chúng cao lớn.

Ngày hôm kia, người bạn tốt nhất của Martha ghé qua. Chúng tôi nói chuyện vài phút, và cô ấy giải thích rằng Martha đã lập di chúc và ngân hàng sẽ tiếp quản ngôi nhà của cô ấy. Tôi hỏi về những chậu cây và cô ấy bảo tôi nên đem chúng về chăm sóc, bởi vì khi những viên chức từ ngân hàng đến và kiểm tra tài sản, những chậu cây trong vườn sẽ mất. Một lần nữa, tôi cảm thấy vinh hạnh. Những chậu cây của Martha đã mang đến cho cô ấy rất nhiều niềm vui, và giờ đây, chúng mang đến niềm vui cho tôi và gia đình.

Martha đã dạy tôi rất nhiều điều, và tôi muốn bảo đảm rằng tài sản của cô ấy chính là sự tử tế và sự thân thiện, cũng giống như những chậu cây sẽ tiếp tục sống. Trong tương lai, tôi sẽ chú ý chào đón những người hàng xóm. Tôi sẽ không tò mò hay lấn chiếm, mà tôi sẽ luôn để họ biết rằng tôi luôn sẵn sàng khi họ cần. Tất cả chúng ta đều có lúc cần đến một người hàng xóm tốt bụng.
Giá trị của việc sống khỏe mạnh

Phỏng theo bài viết của Maria Fontaine

Sống khỏe mạnh không phải là điều tự nhiên xảy ra. Nó cần sự nỗ lực, và cũng thường kèm theo cả sự hy sinh, sắp xếp lại những ưu tiên và từ bỏ những thứ nào đó chúng ta rất thích nhưng lại không tốt cho bản thân. Sức khỏe lâu dài chính là sự đầu tư cả cuộc đời, nhưng đó là một sự đầu tư khôn ngoan. Tốt hơn nên đầu tư một ít mỗi ngày để tăng cường sức khỏe cho cơ thể hơn là bỏ mặt và phải chịu những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Trong những vấn đề về sức khỏe, cũng như nhiều điều khác trong cuộc sống, Chúa thường không làm thay cho chúng ta những gì chúng ta có thể và nên tự làm. Ngài mong đợi chúng ta chăm sóc cơ thể của mình, và Ngài thường không chịu trách nhiệm cho những hậu quả tiêu cực khi mà lẽ ra chúng ta có thể có những lựa chọn lành mạnh hơn, nhưng đã không chọn.

The Value of Healthy Living

By Maria Fontaine, adapted

Staying healthy doesn’t happen automatically. It takes effort, and also usually involves some sacrifice, some reordering of priorities and forgoing certain things that would be enjoyable but not good for us. Long-term health is a lifelong investment, but it’s a wise one. Better to invest a little each day in strengthening our bodies than to neglect them and suffer serious health problems.

In health matters, as with many other things in life, God usually won’t do for us what we can and should do ourselves. He expects us to take care of our bodies, and He often won’t override the negative consequences when we could have made healthier choices but didn’t.

Những quy tắc cơ bản

Tạ ơn vì Chúa đã lập ra những quy tắc rất rõ ràng để sống khỏe mạnh. Những quy tắc này chung quy về ba nhóm: tinh thần, cảm xúc, và thể xác. Bí quyết để khỏe mạnh về tinh thần chính là cố gắng hết sức sống gần với Chúa, tìm và làm theo kế hoạch của Ngài dành cho cuộc sống của chúng ta. Chìa khóa quan trọng để khỏe mạnh về mặt cảm xúc chính là duy trì thái độ tích cực, nhờ đó giảm thiểu căng thẳng, lo lắng, sợ hãi và những cảm xúc tiêu cực khác, tất cả những điều trên đều gây tổn hại đến sức khỏe và trạng thái hạnh phúc của chúng ta. Khỏe mạnh về mặt thể xác được tóm gọn khá đầy đủ trong ba trụ cột của một thân xác khỏe mạnh mà một số chuyên gia về sức khỏe thường đề cập: “Ăn đúng, ngủ đúng, và tập thể dục đúng”.

“Ăn đúng” được tóm tắt trong một vài chỉ dẫn khá đơn giản—đơn giản, nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng. Thay đổi thói quen ăn uống không tốt cần sự quyết tâm và kế hoạch, nhưng có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi bạn nhanh chóng có được thói quen thèm ăn những thức ăn tốt, và không thèm ăn những thức ăn không tốt cho sức khỏe.

“Ngủ đúng” nghe có vẻ dễ dàng, nhưng rất nhiều người thiếu ngủ. Đúng là có một số người ngủ ít hơn những người khác, nhưng áp lực của cuộc sống hiện đại ép chúng ta cố làm nhiều thứ hơn trong ngày bằng cách ngủ ít hơn những gì cơ thể cần để khỏe mạnh. Đó là một cách làm thiển cận, bởi vì chúng ta sẽ làm được nhiều hơn trong lúc chúng ta thức khi chúng ta được nghỉ ngơi đầy đủ.

Đối với những người không có thói quen tập thể dục thường xuyên, rất dễ sao lãng việc tập thể dục. Điều khó bỏ qua nhất chính là nhu cầu ngủ, bởi vì tác hại của việc thiếu ngủ sẽ cảm nhận được tức thời. Ngược lại, rất giống như những tác hại của thói quen ăn uống không lành mạnh, hậu quả của việc thiếu tập thể dục có thể đến rất chậm. Tập thể dục giúp cơ thể của chúng ta đào thải chất độc và củng cố lại chức năng. Nó cũng giúp săn chắc cơ, khỏe xương, và những cơ quan nội tạng, tăng cường hệ miễn dịch, và giúp duy trì cân nặng phù hợp. Hầu như không có một tế bào sống nào trong cơ thể không được hưởng lợi từ việc tập thể dục thường xuyên và đúng cách.

Ground rules

Thankfully, God has laid out some pretty straightforward rules for staying healthy. These fall into three main categories: spiritual, emotional, and physical. The key to the spiritual aspect is in staying close to God, in finding and following His plan for our lives as best we can. An important key to the emotional aspect is in maintaining a positive attitude, which reduces stress, worry, fear, and other negative emotions, all of which take a toll on our health and happiness. The physical aspect is pretty much summed up in what some health experts refer to as the three pillars of physical health: “Eat right, sleep right, and exercise right.”

“Eat right” comes down to following a few fairly simple guidelines—simple, but not always easy. Changing poor eating habits takes determination and planning, but you’ll probably be surprised at how quickly you develop an appetite for the right kinds of food and lose your appetite for the wrong ones.

“Sleep right” may sound easy enough, but many people try to operate with a sleep deficit. It’s true that some people need less sleep than others, but the pressures of modern living push many of us to try to pack more into our days by sleeping less than our bodies need to be in top health. That’s being shortsighted, because we get more out of our waking hours when we’re rested.

For people who aren’t in the habit of exercising regularly, that’s an easy one to neglect. It’s hardest to dismiss the need for sleep, because the effects of trying to go without sleep are felt immediately. On the other hand, much like the effects of a poor diet, the results of insufficient exercise can be slower in coming. Exercise helps our bodies cleanse and repair themselves. It also strengthens muscles, bones, and internal organs, boosts our immune systems, and helps us maintain an acceptable weight. There is scarcely a living cell in our bodies that doesn’t benefit from regular exercise of the right kind.

Chế độ riêng

Những quy tắc cơ bản là rất chung, nhưng vì độ tuổi, cơ địa, và những sở thích cá nhân là rất khác nhau nên những gì có tác dụng tốt nhất cũng tùy nơi mỗi người. Nhu cầu của mỗi người cũng thay đổi theo thời gian khi có những yếu tố mới xuất hiện. Như vậy, làm thế nào bạn biết được điều gì là đúng cho mình. Rất nhiều “chuyên gia” đưa ra những thông tin và lời khuyên mâu thuẫn, và đôi khi có những chế độ ăn kiêng hoặc tập thể dục ban đầu được tán thưởng rộng rãi, nhưng sau đó lại mất uy tín. Bạn nên theo chế độ của ai? Chỉ có Đấng tạo dựng nên bạn mới thật sự biết điều gì tốt nhất cho bạn, và Ngài muốn hợp tác với bạn để bạn có được sức khỏe tốt nhất.

Tai sao không hỏi Chúa để Ngài chỉ cho bạn biết điều gì cần thay đổi trong chế độ ăn uống hoặc kế hoạch tập thể dục của bạn. Một trong những cách Ngài làm chính là cho bạn biết thông qua cơ thể của bạn. Ví dụ như sự đau nhức mỗi ngày một nặng hơn có thể là dấu hiệu của việc tập quá sức hoặc không tập thể dục đúng cách.

Personalized program

The ground rules are universal, but because age, body types, and personal preferences vary greatly, what will work best also varies from person to person. Each person’s needs also change over time and as other factors enter in. So how do you know what’s right for you? Many “authorities” offer conflicting information and advice, and sometimes a certain kind of diet or exercise is widely acclaimed for a time, but discredited later. Whose program do you follow? Only your Creator truly knows what’s best for you, and He wants to work with you toward optimum health.

Why not ask Him to show you what changes to make in your diet or exercise plan? One of the ways He has of letting you know is through your body. For example, that soreness that gets a little worse each day could be a sign of overdoing or not performing an exercise correctly.

Giữ cơ thể cân đôi là một lối sống

Mục tiêu là tạo thói quen lâu dài về việc ăn uống, ngủ nghỉ và tập thể dục phù hợp—chứ không phải chỉ là điều chúng ta thực hiện trong vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi chúng ta sụt được vài cân hoặc mặc vừa size nhỏ hơn. Nếu chúng ta không thay đổi thói quen xấu khiến chúng ta tăng vài cân, số cân sẽ quay lại. Đó là lý do tại sao những chế độ ăn kiêng và chương trình tập thể dục hứa hẹn mang lại kết quả nhanh thường không hiệu quả: vì những chương trình này chỉ tập trung vào ngắn hạn thay vì lựa chọn những lối sống mang đến những thay đổi dài hạn. Trong một vài trường hợp, ta có thể thực hiện những chương trình ngắn hạn để khỏe hơn hoặc giảm cân, nhưng rồi ta cần xây dựng những thói quen sống khỏe dài hạn mới nếu ta muốn duy trì được những gì đã đạt được.

Nếu bạn thật sự nghiêm túc trong việc thay đổi lối sống lành mạnh hơn, những câu hỏi đầu tiên đặt ra chính là: “Hằng ngày tôi phải ăn uống, ngủ nghỉ và tập thể dục như thế nào cho đúng đắn?” “Tôi cần phải thay đổi gì trong suy nghĩ và lối sống của mình?” và “Chế độ cụ thể nào là tốt nhất cho tôi?”

Thay thế những thói quen không tốt cho sức khỏe bằng những thói quen tốt cần sự quyết tâm, sự tìm tòi và lập kế hoạch, nhưng những thành quả mà chúng ta nhanh chóng đạt được sẽ giúp chúng ta tiếp tục duy trì; chúng ta sẽ cảm thấy khỏe hơn rất nhiều và muốn tiếp tục thực hiện những thói quen giúp chúng ta cảm thấy khỏe mạnh.

Keeping fit is a lifestyle

The goal is to make getting proper diet, sleep, and exercise lifelong habits—not just something we do for a few days or a few weeks until we lose a few inches from our waist or drop a clothing size or two. Unless we correct the bad habits that brought on those extra inches, they will soon be back. This is why diets and exercise programs that promise quick results are largely unsuccessful: They focus on the short term instead of lifestyle choices that bring long-term changes. In some cases, it’s worth undertaking a short-term program to get healthier or lose weight, but then you need to build new long-term health habits if you want to hold on to the ground you’ve gained.

If you’re serious about switching to a healthier lifestyle, the first questions to ask are, “How can I make eating, sleeping, and exercising right my daily norms?” “What changes do I need to make in my mindset or lifestyle?” and, “What specific health program is best for me?”
Replacing poor health habits with good ones takes determination, study, and planning at first, but the payoff soon makes it self-sustaining; we feel so much better that we want to keep doing the things that make us feel that way.

When Nobody Noticed

By Iris Richard

It was a dull and rainy day as I sat at the window of a small brick row house in Leicester, England, watching the rain form small rivers on the window pane. A friend was letting me stay at his house while he was away and I helped care for a terminally ill loved one. It was a half-hour bus ride from the house to the Leicester Royal Infirmary, where I spent most of my days.

I had saved up for this trip, taking a two-week unpaid leave from work, and allowing for a few extra days in case I needed to stay a bit longer before another relative arrived to take my place. However, two weeks had already turned into three, and the relative was still delayed. I was beginning to run short on cash and secretly started to worry how much longer I was going to be able to continue on my present shoestring budget.

That evening, I called my friend Myriam and explained the situation.

“I’m on my way!” she said. “I can take a week off from work and will be glad to join you.”

I picked Myriam up at the bus terminal the following evening. It was pouring rain, but I was so thankful to see her that I hardly noticed. Her arrival was an answer to prayer, and I felt God reaching out to me and my sick loved one through her presence.

Not only did Myriam help out financially—she did a grocery shopping and rented a car, which made it easier for us to get to and from the hospital and to take our patient on short outings—but she also provided much-needed moral support. I had reached an emotional low, after daily witnessing the suffering in the cancer ward.

“How will I ever repay you?” I asked when I hugged Myriam good-bye.

“Don’t worry about that! I’m just glad I was able to help.”

When I had thought nobody noticed my desperate situation, God showed me that He did, by touching the heart of a friend who responded and came to my rescue. This experience reminded me of how much good there is in so many people.

The next time God nudges my heart to be a “good Samaritan” to someone in need, I know I’ll feel more inspired to answer the call, remembering how much Myriam’s help meant to me.

Not all of us can do great things. But we can do small things with great love.—Author unknown, often attributed to Mother Teresa (1910–1997)

Does not the potter have the right to make out of the same lump of clay some pottery for special purposes and some for common use?—Romans 9:21 NIV

Khi không ai nhận thấy

Iris Richard

Một ngày mưa ảm đạm khi tôi ngồi bên cửa sổ của một ngôi nhà phố bằng gạch nhỏ trong một dãy phố tại Leicester, nước Anh, nhìn mưa tạo thành những dòng sông nhỏ nơi ô cửa. Một người bạn cho tôi ở trong nhà của của anh ấy trong lúc anh ấy đi vắng và tôi giúp chăm sóc một người thân đang bệnh nặng vào giai đoạn cuối. Mất nửa tiếng ngồi xe buýt từ nhà đến bệnh xá Royal Leicester, nơi tôi ở đây hầu như cả ngày.

Tôi đã phải dành dụm tiền cho chuyến đi này, nghỉ việc không lương 2 tuần, và xin nghỉ thêm vài ngày dự phòng trong trường hợp tôi cần ở lại lâu hơn cho đến lúc người bà khác đến thay thế cho tôi. Thế nhưng, hai tuần kéo dài thành ba tuần, và người bà con vẫn chưa đến. Tôi sắp hết cạn tiền và bắt đầu âm thầm lo lắng liệu rằng mình có thể kéo dài tình trạng tài chính eo hẹp như bây giờ trong bao lâu nữa.

Tối hôm ấy, tôi gọi điện cho bạn tôi, Myriam và nói về hoàn cảnh của mình.

“Mình đang đi trên đường!” cô ấy nói. “Mình có thể nghỉ làm một tuần và mình sẽ rất vui được đến với bạn.”

Tôi đón Myriam ở trạm xe buýt vào tối hôm sau. Đêm ấy mưa tầm tã, nhưng tôi thật biết ơn khi nhìn thấy cô ấy điều tôi khó mà nhận thấy. Việc cô ấy đến đáp trả lời cầu nguyện của tôi, và tôi cảm nhận Chúa đã đến với tôi và người thân đang bị bệnh của tôi thông qua sự hiện diện của cô ấy.

Myriam không chỉ giúp đỡ về mặt tài chính mà còn giúp đỡ chúng tôi rất nhiều về mặt tinh thần—cô ấy đi chợ, thuê xe, điều này giúp chúng tôi thuận tiện hơn trong việc đi lại bệnh viện cũng như chở người bệnh của chúng tôi ra ngoài. Tôi rất buồn khi mỗi ngày phải chứng kiến sự chịu đựng đau đớn ở khu bệnh nhân ung thư.

“Làm sao mình có thể đền đáp cho bạn đây?” tôi nói và ôm chào tạm biệt Myriam

“Đừng lo lắng gì cả! Mình thật sự rất vui khi có thể giúp đỡ bạn.”

Khi tôi nghĩ không ai nhận thấy hoàn cảnh tuyệt vọng của tôi, thì Chúa đã chứng tỏ cho tôi thấy Ngài có—bằng cách chạm đến tấm lòng của một người bạn, người đã đến để cứu tôi. Trải nghiệm này nhắc tôi nhớ rằng rất nhiều người có tấm lòng nhân ái biết bao.

Lần sau, khi Chúa đánh động lòng tôi để làm “người Samari nhân hậu” đối với ai đó đang cần, tôi biết mình sẽ cảm thấy hứng khởi đáp trả lời mời gọi ấy, và nhớ đến sự giúp đỡ của Myriam đã có ý nghĩa đối với tôi đến dường nào.

QUIET MOMENTS A Worthwhile Life
By Abi May

We are unlikely to have Abraham’s calling to become the father of nations (See Genesis 12). Not many of us have the strength of Samson to bring the perpetrators of evil to justice (See Judges 16). It is rare to be given the responsibility, like Esther, of safeguarding the people of our nation (See Esther 4). And most of us don’t have the fearlessness of the prophet Daniel, risking life and limb for our faith (See Daniel 6), or even the vigor of the apostle Paul, who evangelized almost the entire known world of his day (See Acts 13–15,18).

Most of us are more like those unnamed individuals scattered throughout the gospels, like the men and women who sat on the grass listening to Jesus, enjoying the meal of loaves and fishes, and hopefully letting His words sink into our hearts and change our lives (See Matthew 14). He’s given us a lot to chew on, that’s for sure.

We don’t need to do something outstanding or showy with our life in order for it to be worthwhile. The secret is finding out what God’s calling for us is and how we can best fulfill it. Some of the most meaningful lives are built by doing little things in countless little ways.

Dear God, give me faith to believe, love to put others before myself, trust to share with those in need, strength to do what needs to be done, patience to offer a listening ear, and kindness to pay attention to those around me.

I would like to be a more selfless, caring person, like You. Please come into my life and fill me with Your Spirit of love, so I can learn to think more about others. Help me to live a worthwhile life, not necessarily through some great accomplishments, but through a collection of small, loving, and meaningful actions, day after day—not for glory or reward, but because I want to follow in Your footsteps, as the one who went everywhere doing good (See Acts 10:38).

Những thoáng suy ngẫm Một cuộc sống đáng giá

Abi May

Không phải tất cả chúng ta đều làm được những điều lớn lao. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé bằng tình yêu lớn lao.—Khuyết danh, thường dành tặng cho mẹ Teresa (1919-1997)

Phải chăng thợ gốm không có quyền dùng đất sét theo ý mình: từ cùng một nắm đất mà nắn ra đồ vật khác nhau, cái thì dùng vào việc cao quý, cái thì dùng vào việc thấp hèn?—Rm 9:21

Chúng ta không nhất thiết phải có ơn gọi của Abraham để trở thành tổ phụ của mọi dân tộc (Xem St 12). Không phải ai trong chúng ta cũng có sức mạnh của Samson để mang thủ phạm gây tội ra xét xử (Xem Thủ lãnh 16). Rất hiếm ai được trao trọng trách của Esther, bảo vệ dân tộc (Xem Esther 4). Và hầu hết chúng ta không có được sự can đảm của tiên tri Daniel, liều mạng sống và chặt chân tay vì lòng tin (Xem Đn 6), hoặc thậm chí sự hăng hái như tông đồ Phao-lô, người truyền giảng hầu hết khắp những vùng được biết đến vào thời của ông (Xem Cv 13-15, 18).

Hầu hết chúng ta giống những người vô danh xuất hiện rải rác trong Tin mừng hơn, giống như những người nam và người nữ ngồi trên bãi cỏ nghe Chúa Giê-su giảng, thưởng thức bữa ăn gồm bánh mì và cá, và hy vọng để cho những lời của Ngài thấm vào trong tâm hồn và thay đổi cuộc sống của chúng ta (Xem Mt 14). Ngài đã cho chúng ta rất nhiều thứ để nhai, chắc chắn là như thế.

Chúng ta không cần làm những điều nổi trội hoặc phô trương trong cuộc sống để cảm thấy cuộc sống đáng giá. Bí mật chính là tìm thấy ơn gọi của Chúa dành cho chúng ta và làm thế nào để chu toàn một cách tốt nhất. Có những cuộc sống ý nghĩa nhất được tạo nên thông qua việc thực hiện những điều nhỏ bé theo vô vàn những cách nhỏ bé.

Lạy Chúa, xin ban cho con lòng tin để tin tưởng, tình yêu để đặt mọi người lên trên cả bản thân con, sự tin cậy để chia sẻ với những ai đang khó khăn, sức mạnh để làm những gì cần làm, kiên nhẫn để lắng nghe, và sự tử tế để luôn quan tâm với những ai quanh con.

Con muốn trở thành một người quảng đại hơn và biết quan tâm hơn, một người giống như Ngài. Xin hãy đến trong cuộc sống của con và đong đầy con bằng Thần Khí tình yêu của Ngài, nhờ đó, con có thể học biết nghĩ về người khác nhiều hơn. Xin giúp con sống một cuộc sống có giá trị, không nhất thiết thông qua những thành tựu lớn lao, nhưng thông qua những hành động ý nghĩa, yêu thương nhỏ bé qua từng ngày—không phải vì được khen ngợi hay tán thưởng, nhưng bởi vì con muốn theo bước chân Ngài, Đấng đã đi khắp mọi nơi để làm điều thiện (Xem Cv 10:38).

FROM JESUS WITH LOVE

Make Time for People

It’s easy to be a good person but still be wrapped up in your own little world. After all, you already have more work and other responsibilities than you feel you can keep up with. It’s no surprise that there’s so little time for reaching out to others. 

When I was on earth, I was also busy, especially during My public ministry. I had only about three and a half years to accomplish My mission, but I still took time for people—even some who others thought weren’t worth My time. I let the children come to Me. I talked with the Samaritan woman at the well. I noticed Zacchaeus up in a tree and asked to spend the evening with him at his house. I also took time to personally encourage thousands of others—conversations so numerous and seemingly commonplace that they didn’t make it into the gospels, yet each had a big impact on someone’s life. If I could take the time to stop and show a little love and kindness and understanding to those around Me, you can too. 

As you show love in the little things, I will pour more of My love into you, so you will have more to give and more to enjoy. You’ll find this “extra” giving of yourself is really no sacrifice at all. I will more than make it up to you in added inspiration and other blessings, and so will those you make time for.

Chúa Giê-su với tình yêu

Dành thời gian cho mọi người

Rất dễ để làm người tốt nhưng vẫn được bao bọc trong thế giới riêng nhỏ bé của mình. Nói cho cùng, con đã có nhiều việc và trách nhiệm hơn những gì con nghĩ mình có thể kham nổi. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi con có quá ít thời gian để dành cho người khác.

Khi Ta còn ở thế gian, Ta cũng rất bận rộn, đặc biệt là trong suốt sứ mệnh rao giảng của mình. Ta chỉ có ba năm rưỡi để hoàn thành sứ mệnh của mình, nhưng Ta vẫn dành thời gian cho mọi người—ngay cả với một số người mà những người khác cho rằng không xứng đáng với thời gian của Ta. Ta để cho trẻ con đến với Ta. Ta nói chuyện với người phụ nữ Samaria bên giếng nước. Ta nhìn thấy Zacchacus trên cây cao và yêu cầu dùng bữa tối tại nhà của ông ta. Ta cũng đã dành thời gian riêng để động viên hàng ngàn người—những cuộc trò chuyện là vô số và rất bình thường nên đã không được kể lại trong sách Tin mừng, tuy nhiên, mỗi một cuộc trò chuyện đều có một ảnh hưởng to lớn nơi cuộc sống của ai đó. Nếu Ta có thể dành thời gian để ngừng lại và thể hiện tình yêu, sự tử tế và thông hiểu đối với những người quanh Ta, thì con cũng có thể.

Khi con thể hiện tình yêu trong những việc nhỏ, Ta sẽ tuôn đổ thêm tình yêu của Ta trên con, nhờ đó, con có thể có thêm để cho đi, và có thêm để tận hưởng. Con sẽ nhận thấy việc cho đi bản thân “nhiều hơn” thật sự chẳng phải là hy sinh gì cả. Ta sẽ đền bù cho con qua những ơn lành và những nguồn cảm hứng, và cả những người con dành thời gian cho họ.

Published by

James

I am a missionary of Jesus Christ serving God in Japan.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *